X
Loading
Kết quả từ 1 tới 7 trên 7

Chữ kí điện tử và chữ kí số,

  1. Chuyên viên cao cấp
    Bắt đầu vào 14-06-2011, 02:45 PM
    Đã viết: 2,107 bài thảo luận
    hoangtunapa90 is offline
    8872 lượt xem
    #1

    Red face Chữ kí điện tử và chữ kí số,

    HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
    Học viện Hành chính
    cöööööd
    BÀI TẬP NHÓM





    Tên đề tài:Chữ kí điện tử và chữ kí số,
    Khai thác và xử lý thông tin

    Môn: Thông tin trong quản lí hành chính nhà nước
    Giảng viên hướng dẫn: Doãn Minh Thắng




    Hà Nội,4-201
    Lời mở đầu
    Trong những năm qua ngành Công nghệ thông tin của Việt Nam có tốc độ phát triển tương đối cao (dự kiến đến giai đoạn 2011-2015 tốc độ phát triển của ngành công nghệ thông tin đạt 12%,doanh thu lên tới 3,3 tỷ USD vào năm 2015) mang đến nhiều tiện ích cho cá nhân, tổ chức cũng như toàn xã hội. Ứng dụng của các sản phẩm từ ngành Công nghệ thông tin hết sức đa dạng: hệ thống các phần mềm hỗ trợ quản lý, công nghệ số, công nghệ 3G, 4G, chữ kí số… Công nghệ thông tin đã góp phần nâng cao chất lượng,hiệu quả, tiết kiệm thời gian, tài chính trong nhiều lĩnh vực như tài chính- ngân hàng, viễn thông,giáo dục,quản lí hành chính nhà nước...Với tốc độ phát triển nhanh chóng của ngành Công nghệ thông tin đã tạo ra môi trường mạng ổn định, thuận tiện tuy nhiên tính bảo mật chưa thực sự cao
    Đứng trước thực trạng đó con người cần một ứng dụng mới đáp được nhu cầu của con người về tính bảo mật, nâng cao độ tin cậy của dữ liệu. Chữ kí điện tử và chữ kí số ra đời đáp ứng thực trạng trên.
    Chúng em xin trình bày một số hiểu biết của bản thân về chữ kí số và chữ kí điện tử qua bài báo cáo.
    Qua đó,chúng em xin được gửi lời cảm ơn đến thầy Doãn Minh Thắng đã hướng dẫn chúng em thực hiện báo cáo này.
    Bài báo cáo của chúng em thực hiện dưới góc độ của sinh viên nên còn nhiều hạn chế và thiếu sót. Vì vậy,rất mong nhận được sự góp của thầy và các bạn để có thể hoàn thiện bài một cách tốt hơn!
    Em xin chân thành cảm ơn!

    Câu 1:
    Tìm hiểu chữ kí điện tử,chữ kí số.
    Ngành công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) Việt Nam đã và đang có nhưng bước phát triển mạnh mẽ, trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân, đóng góp ngày càng nhiều vào sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Chính phủ Việt Nam luôn dành nhiều ưu đãi để thu hút đầu tư, thúc đẩy sự phát triển của ngành kinh tế quan trọng này.
    Ngày nay, sự bùng nổ của Công nghệ thông tin nói chung và Internet nói riêng đem đến tiện ích về thời gian, hiệu quả tài chính… cho nhiều ngành, lĩnh vực trong đời sống.
    Tuy nhiên,Internet cũng mang lại nhiều rủi ro cho cá nhân cũng như doanh nghiệp mà một trong những vấn đề lớn nhất đó là vấn đề gian lận.

    Trong cuộc sống hàng ngày, ta cần dùng chữ ký để xác nhận các văn bản tài liệu nào đó và có thể dùng con dấu với giá trị pháp lý cao hơn đi kèm với chữ ký.
    Cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, các văn bản tài liệu được lưu dưới dạng số, dễ dàng được sao chép, sửa đổi. Nếu ta sử dụng hình thức chữ ký truyền thống như trên sẽ rất dễ dàng bị giả mạo chữ ký. Việc đảm bảo an toàn thông tin, tránh nguy cơ bị thay đổi, sao chép hoặc mất mát dữ liệu trong các ứng dụng trên mạng luôn là vấn đề cấp thiết, được nhiều người quan tâm. Chữ ký điện tử ra đời nhằm giải quyết vấn đề trên.

    I-Chữ kí điện tử
    1-Khái niệm
    Chữ ký điện tử là thông tin đi kèm theo dữ liệu (văn bản, hình ảnh, video...) nhằm mục đích xác định người chủ của dữ liệu đó.Chữ kí điện tử cho phép ta xác định nguồn gốc(xuất xứ),thực thể tạo ra thông điệp của một chuỗi dữ liệu.
    2-Sự cần thiết của chữ kí điện tử
    -Môi trường mang nhanh nhưng độ tin cậy kém.
    -Giả mạo dễ dàng,dễ thay đổi
    -Xác thực nguời gửi
    -Hiệu lực pháp lí
    3-Hoạt động của chữ kí điện tử

    Chữ ký điện tử hoạt động dựa trên hệ thống mã hóa khóa công khai. Hệ thống mã hóa này gồm hai khóa, khóa bí mật và khóa công khai (khác với hệ thống mã hóa khóa đối xứng, chỉ gồm một khóa cho cả quá trình mã hóa và giải mã). Mỗi chủ thể có một cặp khóa như vậy, chủ thể đó sẽ giữ khóa bí mật, còn khóa công khai của chủ thể sẽ được đưa ra công cộng để bất kỳ ai cũng có thể biết. Nguyên tắc của hệ thống mã hóa khóa công khai đó là, nếu ta mã hóa bằng khóa bí mật thì chỉ khóa công khai mới giải mã thông tin được, và ngược lại, nếu ta mã hóa bằng khóa công khai, thì chỉ có khóa bí mật mới giải mã được.
    Ví dụ:

    BobPhao


    (Khóa công cộng của Bob)


    (Khóa riêng của Bob)

    Bob đã có 2 khóa. Một trong những chìa khóa của Bob được gọi là một khóa công cộng, các khác được gọi là một chìa khoá riêng tư.
    Nhân viên của Bob






    Bất cứ ai cũng có thể nhận được của Bob khóa công cộng, nhưng Bob giữ khóa riêng tư cho mình.

    Pat
    Doug
    David


    Bất cứ ai cũng có thể nhận được của Bob khóa công cộng, nhưng Bob giữ khóa riêng tư cho mình. Các phím được sử dụng để mã hóa thông tin. Mã hóa thông tin có nghĩa là "xáo trộn nó lên", để chỉ một người có chìa khóa thích hợp có thể làm cho nó có thể đọc được nữa. Hoặc là một trong hai phím của Bob có thể mã hóa dữ liệu, và các phím khác có thể giải mã dữ liệu đó.



    Tôi đã chuyển tài liệu cho anh.



    HNFmsEm6Un



    HNFmsEm6Un

    Tôi đã chuyển tài liệu cho anh.

    Với khóa riêng của mình và phần mềm quyền, Bob có thể đặt chữ ký số trên các tài liệu và dữ liệu khác. Một chữ ký số là một "con dấu" Bob nơi mà trên đó các dữ liệu đó là duy nhất cho Bob và rất khó để giả mạo. Ngoài ra, chữ ký đảm bảo rằng bất kỳ thay đổi trên dữ liệu đã được ký kết không thể không bị phát hiện.
    4-Mã hóa dữ liệu
    Để chữ kí số có thể xác nhận dữ liệu trước hết phải có quá trình mã hóa dữ liệu
    Khái niệm
    Mã hóa dữ liệu là sử dụng một phương pháp biến đổi dữ liệu từ dạng bình thường sang một dạng khác, mà một người không có thẩm quyền, không có phương tiện giải mã thì không thể đọc hiểu được.Giải mã dữ liệu là quá trình ngược lại, trong đó sử dụng một phương pháp biến đổi dữ liệu đã được mã hóa về dạng thông tin ban đầu.

    Hình 1: Sơ đồ mã hóa dữ liệu
    Xây dựng chữ ký điện tử trên cơ sở kết hợp giữa thuật toán băm MD5 và thuật toán mã hóa RSA.
    Sử dụng thuật toán mã hóa khóa công khai RSA (được đặt tên từ ba nhà phát minh là Ron Rivest, Adi Shamir và Leonard Adleman), được sử dụng nhiều nhất, thuật toán sử dụng biểu thức với hàm mũ để mã hóa bản gốc thành các khối, mỗi khối có một giá trị nhị phân nhỏ hơn n.

    Hình 2:Sơ đồ mã hóa RSA
    5-Giải pháp ứng dụng chữ ký điện tử
    - Đây là một ví dụ về hoạt động của chữ kí điện tử trong quá trình gửi và nhận tệp văn bản
    Hình 3: Quá trình ký và gửi tệp văn bản


    Hình 4: Sơ đồ nhận tệp văn bản và xác nhận chữ ký điện tử

    -Chữ kí điện tử có khả năng kí những văn bản:
    · Email(Microsoft outlook)
    · Microsoft Office document(Word,Excel,Power Poin)
    · PDF.
    Chữ ký điện tử là mô hình đảm bảo an toàn dữ liệu khi truyền trên mạng và được sử dụng để tạo chứng nhận điện tử trong các giao dịch điện tử qua mạng Internet.



    6-Tiện ích và hạn chế của chữ kí điện tử
    a,Tiện ích:
    -Bằng việc sử dụng chữ ký điện tử, các giao dịch điện tử cũng như những thông tin truyền tải trên mạng Internet sẽ được bảo vệ tốt hơn, tạo độ tin cậy và an toàn hơn cho người sử dụng về nội dung và thông tin được gửi và được nhận.
    Tiện ích lớn nhất mà chữ ký điện tử mang lại là sự bảo đảm, thể hiện tính đồng nhất của người gửi và người nhận thông tin vì nó xác minh được người gửi một cách chắc chắn.

    -Bằng cách sử dụng chữ ký điện tử, thông tin và dữ liệu được gửi bằng điện tử được bảo vệ tốt.
    -Chữ ký điện tử cho phép nội dung của thông điệp được gửi là duy nhất, không thể huỷ bỏ và thay đổi.
    -Nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhận dạng cả hai người gửi và người nhận.
    -Hệ thống này tự nó có thể hỏng, điều này có nghĩa là nó rất cần sử dụng một hệt thống thích hợp để phân loại các mật mã riêng.

    -Hệ thống phân loại cần được bảo vệ một cách hợp lý và quản lý bởi một cá nhân hay tập thể được uỷ quyền tuyệt đối để làm việc đó.

    b,Hạn chế
    - Hệ thống này tự nó có thể hỏng, điều này có nghĩa là nó rất cần sử dụng một hệt thống thích hợp để phân loại các mật mã riêng. Hệ thống phân loại cần được bảo vệ một cách hợp lý và quản lý bởi một cá nhân hay tập thể được uỷ quyền tuyệt đối để làm việc đó.

    -Tài liệu được gửi bị thay đổi
    Trước hết, giả sử A có tài liệu TL cần ký. A sẽ mã hóa tài liệu đó bằng khóa bí mật để thu được bản mã TL. Như vậy chữ ký trên tài liệu TL của A, chính là bản mã TL. Khi tài liệu TL của A bị thay đổi (dù chỉ một ký tự, một dấu chấm, hay một ký hiệu bất kỳ), khi B xác nhận, B sẽ thấy bản giải mã TL khác với tài liệu TL của A. B sẽ kết luận rằng tài liệu đó đã bị thay đổi, không phải là tài liệu A đã ký.

    - Để lộ khóa bí mật
    Nếu A để lộ khóa bí mật, nghĩa là văn bản tài liệu của anh có thể ký bởi người khác có khóa bí mật của A. Khi một ai đó xác nhận tài liệu được cho là của A ký, chữ ký vẫn là hợp lệ, mặc dù không phải chính A ký. Như vậy, chữ ký của A sẽ không còn giá trị pháp lý nữa. Do đó, việc giữ khóa bí mật là tuyệt đối quan trọng trong hệ thống chữ ký điện tử.

    7-Chứng nhận an toàn điện tử
    Mục đích của chữ ký điện tử là mang lại hiệu quả giống như chữ ký bằng tay. Vì vậy, nó phải đáp ứng được những yêu cầu về tính toàn diện và xác thực,
    Không phải tất cả chữ ký điện tử đều có thể coi tương đương với chữ ký bằng tay. Vì vậy chữ ký điện tử phải đáp ứng được những yêu cầu cụ thể sau:

    · Nó phải là một chữ ký tiên tiến.
    · Chữ ký phải dựa trên chứng chỉ đã được công nhận.
    · Nó phải được phát hành bởi một tổ chức đảm bảo về phát hành chữ ký.
    · Luật cộng đồng bắt buộc các nước thành viên phải nhận thức đầy đủ về hiệu quả và giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, bất cứ khi nào nó đáp ứng được những yêu cầu nêu trên (điều 5.1 Chỉ thị 1999/93/EC).
    · Nếu chữ ký điện tử đáp ứng được những yêu cầu đặt ra ở trên, nó có thể được dùng như một bằng chứng trong các vụ kiện pháp lý.


    8-Tính pháp lý của chữ ký điện tử
    a.Các định nghĩa pháp lý

    Nhiều luật được ban hành trên thế giới công nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử nhằm thúc đẩy các giao dịch điện tử xuyên quốc gia

    Luật Giao dịch điện tử (Việt Nam), điều 4 định nghĩa

    (1)Chứng thư điện tử là thông điệp dữ liệu do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử phát hành nhằm xác nhận cơ quan, tổ chức, cá nhân được chứng thực là người ký chữ ký điện tử.
    (2)Chứng thực chữ ký điện tử là việc xác nhận cơ quan, tổ chức, cá nhân được chứng thực là người ký chữ ký điện tử.
    (5)Dữ liệu là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự.
    (12)Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử.

    Bộ luật ESIGN (Hoa kỳ), điều 106 định nghĩa
    (2)Điện tử (electronic)- chỉ các công nghệ liên quan tới điện, số, từ, không dây, quang, điện từ hoặc các khả năng tương tự.
    (4)Văn bản điện tử (electronic record)- Các hợp đồng hoặc các văn bản khác được tạo ra, lưu trữ, trao đổi dưới dạng điện tử.
    (5)Chữ ký điện tử (electronic signature)- Các tín hiệu âm thanh, ký hiệu, quá trình gắn (vật lý hoặc logic) với hợp đồng hay văn bản và được thực hiện bởi người muốn ký vào hợp đồng hay văn bản đó.

    Bộ luật GPEA (Hoa kỳ), điều 1710 định nghĩa

    (1)Chữ ký điện tử (electronic signature)- là cách thức ký các văn bản điện tử đảm bảo:
    (A)Nhận dạng và xác thực cá nhân đã tạo ra văn bản;
    (B)Chỉ ra sự chấp thuận của người ký đối với nội dung trong văn bản.

    b.Kiểm tra pháp lý đối với chữ ký điện tử

    Khi một chữ ký điện tử trên hợp đồng hay văn bản bị nghi ngờ thì chữ ký đó phải vượt qua một số kiểm tra trước khi có thể xử tại tòa án. Các điều kiện này có thể thay đổi tùy theo quy định của pháp luật, thậm chí trong một số trường hợp văn bản không có chữ ký (telex, fax...).


    Tại Hoa kỳ, các bước yêu cầu cho chữ ký điện tử bao gồm:

    * Cung cấp thông tin cho người yêu cầu về tính pháp lý của chữ ký điện tử; các yêu cầu về phần cứng, phần mềm; các lựa chọn ký và chi phí (nếu có);
    * Xác thực các bên để nhận diện rủi ro kinh doanh và yêu cầu;
    * Đưa toàn bộ văn bản ra xem xét (các bên có thể phải điền số liệu);
    * Yêu cầu các bên xác nhận sự tự nguyện ký vào văn bản;
    * Đảm bảo các văn bản được xem xét không bị thay đổi từ khi ký;
    * Cung cấp cho các bên các văn bản gốc pháp lý để lưu giữ.
    Vấn đề quan trọng cần được xem xét là sự giả mạo (giả mạo chữ ký và giả mạo sự chấp nhận). Tòa án phải giả định rằng sự giả mạo là không thể thực hiện. Tuy nhiên, đối với chữ ký điện tử thì việc làm giả là không quá khó khăn.

    Thông thường, các doanh nghiệp thường phải dựa trên các phương tiện khác để kiểm tra chữ ký điện tử chẳng hạn như gọi điện trực tiếp cho người ký trước khi giao dịch, dựa trên các quan hệ truyền thống hay không dựa hoàn toàn vào các văn bản dưới dạng điện tử. Đây là các thông lệ trong kinh doanh nên được áp dụng trong bất kỳ môi trường nào vì sự giả mạo cũng là một vấn đề thường xảy ra trong môi trường kinh doanh truyền thống. Chữ ký điện tử cũng như chữ ký truyền thống đều không đủ khả năng ngăn chặn hoàn toàn việc làm giả.

    Các ví dụ về chữ ký điện tử nêu ở trên chưa phải là chữ ký số bởi vì chúng thiếu các đảm bảo mật mã học về nhận dạng người tạo ra và thiếu các kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu. Các chữ ký này có tính chất pháp lý trên được gắn với văn bản trong một số trường hợp cụ thể.



    II-Chữ kí số
    Trong các giao dịch truyền thống, chúng ta vẫn sử dụng giấy tờ, công văn cùng với chữ ký và con dấu. Việc giao dịch, trao đổi thông tin trên môi trường internet cũng cần có một cơ chế tương tự và chữ ký số được sử dụng để phục vụ cho môi trường này. Khác với chữ ký thường có thể phải mất nhiều thời gian để giám định khi cần thiết, chữ ký số có thể được giám định, xác nhận nhanh với các công cụ điện tử. Cũng thế, chứng thực số là một dịch vụ trên internet tương tự như việc công chứng trên giấy tờ, văn bản thông thường. Cụ thể, chữ ký số là một giải pháp công nghệ đảm bảo tính duy nhất cho một người khi giao dịch thông tin trên mạng, đảm bảo các thông tin cung cấp là của người đó.
    Chữ ký số do người sử dụng tạo ra sau khi được nhà cung cấp dịch vụ cung cấp chứng thư số. Chứng thực số được sử dụng để các đối tác của người sử dụng biết và xác định được chữ ký, chứng thư của mình là đúng.

    1-Khái niệm chữ ký số
    Chữ ký số (một dạng chứ ký điện tử) là thông tin được mã hóa bằng khóa riêng (tương ứng với một khóa công khai) của người gửi, được đính kèm theo văn bản nhằm đảm bảo cho người nhận định danh và xác thực đúng nguồn gốc, tính toàn vẹn của dữ liệu nhận được.
    Chữ ký số ra đời để khắc phục các thiếu sót của những hệ thống xác thực ra đời trước đó. Cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, ngoài nhu cầu xác thực, các nhu cầu khác về bảo mật như toàn vẹn dữ liệu và chống từ chối cũng đều hết sức cấp thiết
    Chữ ký số đóng một vai trò rất quan trọng trong trường hợp xảy ra tranh chấp vì chữ ký số được cung cấp bởi hệ thống CA công cộng như FPT có giá trị pháp lý tương đương như chữ ký tay trong các giao dịch phi điện tử.
    Chữ kí số là một tập con của chữ kí điện tử. Khái niệm chữ kí điện tử- mặc dù thường được sử dụng cùng nghĩa với chữ ký số nhưng thực sự có nghĩa rộng hơn. Chữ ký điện tử chỉ đến bất kỳ phương pháp nào (không nhất thiết là mật mã) để xác định người chủ của văn bản điện tử. Chữ ký điện tử bao gồm cả địa chỉ telex và chữ ký trên giấy được truyền bằng fax.



    2-Quy trình tạo chữ kí số



    3-Ưu điểm của chữ kí số
    a-Khả năng xác định nguồn gốc
    Các hệ thống mật mã khóa công khai cho phép mật mã hóa văn bản với khóa bí mật mà chỉ có người chủ của khóa biết. Để sử dụng chữ ký số thì văn bản cần phải được mã hóa bằng hàm băm (văn bản được "băm" ra thành chuỗi, thường có độ dài cố định và ngắn hơn văn bản) sau đó dùng khóa bí mật của người chủ khóa để mã hóa, khi đó ta được chữ ký số. Khi cần kiểm tra, bên nhận giải mã (với khóa công khai) để lấy lại chuỗi gốc (được sinh ra qua hàm băm ban đầu) và kiểm tra với hàm băm của văn bản nhận được. Nếu 2 giá trị (chuỗi) này khớp nhau thì bên nhận có thể tin tưởng rằng văn bản xuất phát từ người sở hữu khóa bí mật. Tất nhiên là chúng ta không thể đảm bảo 100% là văn bản không bị giả mạo vì hệ thống vẫn có thể bị phá vỡ. Vấn đề nhận thức đặc biệt quan trọng đối với các giao dịch tài chính.-ngân hàng Chẳng hạn một chi nhánh ngân hàng gửi một gói tin về trung tâm dưới dạng (a,b), trong đó a là số tìa khoản và b là số tiền chuyển vào tài khoản đó. Một kẻ lừa đảo có thể gửi một số tiền nào đó để lấy nội dung gói tin và truyền lại gói tin thu được nhiều lần để thu lợi (tấn công truyền lại gói tin).
    b-Tính toàn vẹn
    Cả hai bên tham gia vào quá trình thông tin đều có thể tin tưởng là văn bản không bị sửa đổi trong khi truyền vì nếu văn bản bị thay đổi thì hàm băm cũng sẽ thay đổi và lập tức bị phát hiện. Quá trình mã hóa sẽ ẩn nội dung của gói tin đối với bên thứ 3 nhưng không ngăn cản được việc thay đổi nội dung của nó. Ha
    c-Tính không thể phủ nhận
    Trong giao dịch, một bên có thể từ chối nhận một văn bản nào đó là do mình gửi. Để ngăn ngừa khả năng này, bên nhận có thể yêu cầu bên gửi phải gửi kèm chữ ký số với văn bản. Khi có tranh chấp, bên nhận sẽ dùng chữ ký này như một chứng cứ để bên thứ ba giải quyết. Tuy nhiên, khóa bí mật vẫn có thể bị lộ và tính không thể phủ nhận cũng không thể đạt được hoàn toàn.
    4-Đăng kí chữ kí số
    - Cá nhân, DN, tổ chức muốn sử dụng dịch vụ này có thể liên hệ trực tiếp với nhà cung cấp dịch vụ. Sau khi cung cấp các thông tin cần thiết, người sử dụng sẽ được cấp một khóa bí mật để tạo chữ ký số sử dụng trong giao dịch. Đồng thời người sử dụng cũng sẽ được cấp công cụ để chứng thực chữ ký của mình với đối tác. Chữ ký số không giống như chữ ký bình thường ở chỗ mỗi lần ký, người sử dụng sẽ dùng khóa bí mật để tạo chữ ký và mỗi lần ký sẽ là một chữ ký khác nhau (về thuật toán). Dựa vào các công cụ điện tử được cung cấp, các đối tác có thể kiểm tra chứng thư để xác định.
    5-Điều kiện đảm bảo an toàn cho chữ ký số
    Một trong những yêu cầu quan trọng trong việc sử dụng chữ kí số đó là tính an toàn.Chữ ký số được xem là chữ ký điện tử an toàn khi đáp ứng các điều kiện sau:
    1. Chữ ký số được tạo ra trong thời gian chứng thư số có hiệu lực và kiểm tra được bằng khoá công khai ghi trên chứng thư số có hiệu lực đó.
    2. Chữ ký số được tạo ra bằng việc sử dụng khoá bí mật tương ứng với khoá công khai ghi trên chứng thư số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia, tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng, tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn cho chữ ký số hoặc tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số nước ngoài được công nhận tại Việt Nam cấp.
    3. Khóa bí mật chỉ thuộc sự kiểm soát của người ký tại thời điểm ký.
    4. Khóa bí mật và nội dung thông điệp dữ liệu chỉ gắn duy nhất với người ký khi người đó ký số thông điệp dữ liệu.
    6-Giá trị pháp lý của chữ ký số
    Nghị định số26/2007/NĐ-CP, Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện tử về chữ kí số và chứng thực chữ kí số.
    1. Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần có chữ ký thì yêu cầu đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký số.
    2. Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần được đóng dấu của cơ quan, tổ chức thì yêu cầu đó đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bởi chữ ký số của người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng con dấu và chữ ký số đó được đảm bảo an toàn theo quy định tại Điều 9 Nghị định này.
    3. Chữ ký số và chứng thư số nước ngoài được công nhận theo quy định tại Chương VII Nghị định này có giá trị pháp lý và hiệu lực như chữ ký số và chứng thư số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng của Việt Nam cấp
    Một điểm đáng chú ý là không được in chữ kí số lên giấy,Tổng cục Thuế vừa ban hành Công văn số 4331 quy định, chữ ký trên chứng từ kế toán phải được ký bằng bút mực, doanh nghiệp không được sử dụng dấu có khắc sẵn chữ ký, không được sử dụng chữ ký điện tử in lên chứng từ giấy.
    Cũng theo quy định mới của Tổng cục Thuế, chữ ký điện tử chỉ sử dụng trong các chứng từ điện tử. Trường hợp doanh nghiệp sử dụng chứng từ điện tử thì bên cạnh bản điện tử, doanh nghiệp phải tiến hành in chứng từ ra giấy, đóng dấu và ký như chứng từ thông thường.Một văn bản được ký có thể được mã hóa khi gửi nhưng điều này không phải là bắt buộc. Việc đảm bảo tính bí mật và tính toàn vẹn
    của dữ liệu có thể được tiến hành độc lập.



    7- Dịch vụ chứng thực chữ ký số
    a- Dịch vụ chứng thực chữ ký số
    Dịch vụ chứng thực chữ ký số là một loại hình dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số cấp.
    Dịch vụ chứng thực chữ ký số bao gồm :

    · Tạo cặp khóa ( khóa công khai và khóa bí mật) cho thuê bao.
    · Cấp, gia hạn, tạm dừng. phục hồi chứng thư số của thuê bao.
    · Duy trì trực tuyến cơ sở dữ liệu về chứng thư số.
    b-Nhu cầu về chứng thực số ở Việt Nam
    Việc trao đổi, giao dịch của các cá nhân, DN qua mạng ngày càng phổ biến. Trong lĩnh vực thương mại điện tử, thống kê của Bộ Thông tin - Truyền thông cho thấy giao dịch điện tử phát triển khá mạnh với hơn 9.000 website, doanh thu từ mua sắm trực tuyến, điện thoại... lên tới 450 triệu USD/năm. Bên cạnh đó, Chính phủ đang đẩy mạnh cải cách hành chính với việc thúc đẩy phát triển chính phủ điện tử nên nhu cầu về chứng thực số ở VN rất lớn.
    Tác động của chứng thực số với người dân,doanh nghiệp và nhà nước:
    Ứng dụng này khi đưa vào thực tế sẽ giúp cho các giao dịch giữa công dân, DN và nhà nước thuận tiện và đảm bảo hơn. Ví dụ: người dân có thể kê khai, nộp thuế và chuyển tiền trực tiếp qua mạng, DN có thể xây dựng hệ thống mua bán trực tuyến, đảm bảo việc thanh toán qua hệ thống với chứng thư đã được xác nhận, các DN ở các địa phương cũng có thể ký kết hợp đồng qua mạng thay vì phải gặp nhau trực tiếp như hiện nay... Hiện nay đã có nhiều bộ, ngành triển khai các dịch vụ công trực tuyến có sử dụng chữ ký số: Tổng cục Thuế, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư...
    c- Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chứng thực chữ kí số:
    1
    -Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam(VNPT)
    Trụ sở chính: 57A Huỳnh Thúc Kháng, Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội.
    Website: http://www.vnpt.com.vn
    2- Tập đoàn Viễn thông quân đội (Viettel)
    Trụ sở chính: Số 1, Giang Văn Minh, Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội
    Website: http://www.viettel.com.vn
    3- Công ty cổ phần xuất nhập khẩu công nghệ mới Nacencomm
    Trụ sở chính: 40 Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội.
    Website: http://www.nacencomm.com.vn
    4- Công ty an ninh mạng Bkav
    Trụ sở chính: Tòa nhà Hitech - 1 Đại Cồ Việt - Hà Nội.
    Website: http://www.bkav.com.vn
    5-Tập đoàn FPT
    Trụ sở chính:48 Vạn Bảo, Ba Đình, Hà Nội.
    Website:http://www.fpt.vn/
    8-Sử dụng chữ kí số

    Chữ ký số chỉ dùng được trong môi trường số, giao dịch điện tử với máy tính và mạng Internet. Trong môi trường số không thể dùng chữ ký tay nhưng lại có rất nhiều ứng dụng phải cần đến một cơ chế ký và xác thực người sử dụng như chữ ký tay.
    Các công nghệ mã hóa và chữ ký số ra đời để giúp giải quyết vấn đề này. Như vậy, chữ ký số có thể dùng trong tất cả các trường hợp giao dịch cần đến chữ ký tay nhưng lại phải thực hiện trong môi trường số.
    Dịch vụ chữ ký số công cộng là dịch vụ công cộng cho người dân và các doanh nghiệp. Bản thân người sử dụng khi đăng ký dùng dịch vụ của nhà cung cấp có thể tạo ra các chữ ký số của riêng mình đính kèm vào các tài liệu điện tử lưu chuyển trên môi trường số.
    Để người nhận được các tài liệu điện tử có chữ ký số này có thể xác thực được ai là người tạo ra các chữ ký cần phải có một nhà cung cấp dịch vụ chứng thực đứng ra chứng nhận chữ ký đó là do một người cụ thể nào đó tạo ra. Việc chứng nhận này được thực hiện hoàn toàn tự động bằng các thuật toán đặc biệt giúp xác thực được tác giả chữ ký mà không thể chối bỏ hoặc làm giả chữ ký số được.
    Chữ ký số có thể sử dụng trong các giao dịch thư điện tử, các e-mail, để mua bán hàng trực tuyến, đầu tư chứng khoán trực tuyến, chuyển tiền ngân hàng, thanh toán trực tuyến mà không sợ bị đánh cắp tiền như với các tài khoản Visa, Master; có thể sử dụng với các ứng dụng chính phủ điện tử bởi các cơ quan nhà nước trong tương lai sẽ làm việc với nhân dân hoàn toàn trực tuyến và một cửa. Khi cần làm thủ tục hành chính hay một sự xác nhận của cơ quan nhà nước người dân chỉ cần ngồi ở nhà khai vào mẫu đơn và ký số để gửi là xong.

    Ngoài ra, chữ ký số cũng có thể dùng để kê khai, nộp thuế trực tuyến, khai báo hải quan và thông quan trực tuyến mà không phải in các tờ khai, đóng dấu đỏ của công ty và mất nhiều thời gian,dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng có thể sử dụng trong các giao dịch điện tử liên quan đến người sử dụng cá nhân và tổ chức, doanh nghiệp, trong các giao dịch giữa người dân, doanh nghiệp với các cơ quan nhà nước(giao dịch nội bộ của các cơ quan nhà nước hoặc giữa các cơ quan nhà nước với nhau là các giao dịch đặc thù, không dùng được hệ thống chứng thực công cộng mà phải dùng hệ thống riêng)
    Về công nghệ, chữ ký số dựa trên hạ tầng mã hóa công khai (PKI), trong đó phần quan trọng nhất là thuật toán mã hóa công khai RSA. Công nghệ này bảo đảm rằng chữ ký số khi được một người nào đó tạo ra là duy nhất, không thể giả mạo được và chỉ có người sở hữu khóa bí mật mới có thể tạo ra được chữ ký số đó (đã được chứng minh về mặt toán học).
    Ví dụ:
    MD5("Môn Thông tin quản lí") = 2201c07c37755e663c07335cfd2f44c6
    Chỉ cần một thay đổi nhỏ (chẳng hạn viết hoa chữ M thành m) cũng làm thay đổihoàn toàn kết quả trả về :
    MD5("Môn Thông tin quản lí") = e05c1d9f05f5b9eb56fe907c36f469d8
    Thuật toán cũng cho kết quả đối với chuỗi rỗng :
    MD5(" ") = d41d8cd98f00b204e9800998ecf8427e

    Khóa bí mật được tạo ra khi một người đăng ký sử dụng dịch vụ và được lưu trữ trong một thiết bị phần cứng đặc biệt an toàn là Token hoặc SmartCard. Thiết bị này là một máy tính thực sự với cấu trúc tinh vi, có đầy đủ CPU, RAM, bộ nhớ… bảo đảm cho khóa bí mật được lưu trữ an toàn, không thể sao chép hay nhân bản được và cũng không thể bị virus phá hỏng.
    Để sử dụng chữ ký số cần phải đăng ký chứng thư số và tạo khóa bí mật lưu vào trong PKI Token với các nhà cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số (như VNPT, NacenComm, Bkis…). Các chương trình ứng dụng phải hỗ trợ chức năng ký số, khi đó việc sử dụng khá đơn giản: nhấp chuột vào nút lệnh ký số, cắm thiết bị Token vào cổng USB, nhập PIN code bảo vệ Token, nhấp chuột vào nút lệnh ký.
    Thủ tục đăng ký tương tự như đăng ký các dịch vụ viễn thông, tuy nhiên do đặc thù pháp lý của chữ ký số, tương đương với chữ ký tay, nên có thể phải cần thêm một số giấy tờ xác thực nguồn gốc thông tin của doanh nghiệp hay người sử dụng cá nhân chặt chẽ hơn (ví dụ: bản sao giấy tờ có công chứng của doanh nghiệp...).


    Kết luận
    Chữ ký số được sử dụng để bảo đảm tính bảo mật, tính toàn vẹn, tính chống chối bỏ của các thông tin giao dịch trên mạng Internet. Chữ ký số tương đương với chữ ký tay nên có giá trị sử dụng trong các ứng dụng giao dịch điện tử cần tính pháp lý cao.
    Hơn nữa, ngoài việc là một phương tiện điện tử được pháp luật thừa nhận về tính pháp lý, chữ ký số còn là một công nghệ mã hóa và xác thực rất mạnh. Nó có thể giúp bảo đảm an toàn, bảo mật cao cho các giao dịch trực tuyến, nhất là các giao dịch chứa các thông tin liên quan đến tài chính.
    Tại một cuộc hội thảo về chữ ký số do Bộ Thông tin - Truyền thông phối hợp với Ban Cơ yếu Chính phủ tổ chức, ông Trần Văn Sơn, Phó trưởng ban Cơ yếu Chính phủ, cho biết: “Chữ ký số là giải pháp tốt nhất trong việc bảo mật, xác thực và bảo toàn dữ liệu trong các giao dịch điện tử. Tuy nhiên, để đưa chữ ký số vào thực tế không hề đơn giản”.
    Để có thị trường chữ ký số các đơn vị cung cấp cần nỗ lực hơn trong việc cải tiến các giải pháp, đưa mạnh ứng dụng vào cuộc sống, Bên cạnh đó, cần thay đổi thói quen của các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân bằng các biện pháp tuyên truyền, khuyến khích. Đặc biêt,cuộc cải cách hành chính công sẽ góp phần đưa chữ ký số vào cuộc sống.

    Chữ kí điện tử và chữ kí số ra đời đáp ứng được những hạn chế thiếu sót của ngành Công nghệ thông tin.Vì vậy cần có nhiều biện pháp chính sách hơn nữa để đưa chữ kí số và chữ kí điện tử trở thành một bộ phận cần thiết và hết sức quan trọng đối với cá nhân,tổ chức và toàn xã hội.


    Câu 2:
    Những điểm cần lưu ý khi khai thác và xử lí thông tin:
    1-Xác định nhu cầu thông tin.
    Một vấn đề hết sức quan trọng khi bắt đầu quá trình khai thác và xử lí thông tin là xác định nhu cầu về thông tin.Có thông tin chính xác,được tổ chức hợp lí và có thể phục vụ nhanh chóng, kịp thời là yếu tố cần thiết để thực hiện một mệnh lệnh,một công việc hay đơn giản là nhiệm vụ sắp tới.Tuy nhiên, để xác định chính xác thông tin gì là cần thiết, cần phải xem xét các mối quan hệ mật thiết của việc tạo ra hay tìm kiếm được một lượng thông tin mới với cả hai phương diện quản lí chiến lược lẫn quản lí điều hành. Phần lớn giá thành của quản lí thông tin nằm trong việc thu thập thông tin,nguyên lí cơ bản:”Thông tin được thu thập một lần và được chia se càng thường xuyên càng tốt”
    Một yếu tố thiết yếu là phải đảm bảo rằng không chỉ thông tin chính xác cần được thu thập hay tìm kiếm mà còn nhận biết tất cả các cơ hội có thể chia sẻ, phổ biến và sử dụng thông tin đã được thu thập. Bất cư yêu cầu về thông tin mới chủ yếu nào cũng nên được lập kế hoạch một cách hợp lí trong phạm vi chức năng, công việc và nhiệm vụ liên quan. Hơn nữa,tất cả các cơ quan nhà nước nên rà soát lại cá thông tin đã được thu thập có quan hệ với chức năng, nhiệm vụ ít nhất 5 năm 1 lần để đảm bảo tính xác đángcủa thông tin.
    2-Kiểm tra tính sẵn có của thông tin.
    Một vấn đề quan trọng phải đặt ra ngay sau khi xác định được nhu cầu của thông tin là:Thông tin đó đã có sẵn hay chưa,nếu có thì có thể truy cập ở đâu và bằng cách nào? Nếu chưa thì có thể tạo ra thông tin đó được không, ai là người tạo ra,lưu trữ và duy trì tính toàn vẹn của thông tin đó. Điều đó cũng có nghĩa là phải đảm bảo tính sẵn có của thông tin cần thiết để khi cần có thể xác định được ngay.
    3-Thu thập,tìm kiếm thông tin
    Đây là công đoạn có vai trò rất qun trọng trong quy trình xử lí thông tin vì chỉ có thu thập được đầy đủ thông tin cần thiết mới đảm bảo cho ta những số liệu chính xác, phản ánh toàn diện các mặt hoạt động của một hiện tượng xã hội đã được khảo sát. Mục tiêu thu thập thông tin phải được đặt ra cụ thể. Trên cơ sở đó người ta mới ra quyết định nên thu thập các loại thông tin nào? khối lượng bao nhiêu và thời gian cần thiết để thu thập các loại thông tin đó.
    Khi thu thập và quản lí thông tin cần chú ý những điểm sau:
    -Thông tin yêu cầu được xác định rõ ràng.
    -Trách nhiệm quản lí được xác định và phân công rõ ràng, có ý nghĩa là làm rõ ai là người chịu trách nhiệm thu thập, duy trì tính toàn vẹn của thông tin, bảo vệ thông tin và truy cập thông tin.
    -Phương tiện và công cụ, thiết bị được sử dụng.
    -Phân tích chi phí-lợi ích cẩn thận đối với mỗi trường hợp để chọn ra những phương thức quản lí chi phí hiệu quả,nhất là giai đoạn khác nhau của thu nhận và quản lí thông tin.
    -Việc truy cập thông tin đã thu thập cần phải được quy định cẩn thận cùng với việc áp dụng các biện pháp bảo vệ thích hợp. Thông tin đã có cũng cần được thông báo một cách rộng rãi trong mức độ cần thiết.
    -Tìm kiếm các tài liệu liên quan đến nội dung hoặc chủ để quan tâm.
    Để tìm kiếm các tài liệu liên quan đến nội dung hoặc chủ đề quan tâm trước hết chúng ta cần xác định rõ mục đích tìm kiếm. Mục đích đó được thể hiện qua một nội dung, một chủ đề hoặc một số vấn đề mà chủ đề quan tâm.
    -Nên xem lướt qua các tài liệu đã tập hợp và giữ lại những tài liệu quan trọng liên quan đến mục đích tìm kiếm. Sau đó sẽ tiến hành phân loại các tài liệu trên.
    4-Khai thác,sắp xếp những nội dung thông tin từ các hồ sơ đã phân loại.
    Trong quá trình quản lí để sử dụng, khai thác thông tin cần thường xuyên xem xét lại các thông tin đã thu thập được đối chiếu với yêu cầu,chức năng nhiệm vụ của cơ quan. Các thông tin cần được sắp xếp ở những vị trí thích hợp, phù hợp với chiến lược sắp xếp của nhà nước.
    -Nếu mục đích tìm kiếm tài liệu là thu thập thông tin hay những cái nhìn tổng quan về vấn đề nào đó thì sắp xếp vào hồ sơ mang tên chủ đề tìm kiếm.
    -Nếu mục đích tìm kiếm là tìm hiểu về chiều sâu của vấn đề thì những tài liệu về thông tin cụ thể của vấn đề nên đặt vào hồ sơ con của hồ sơ đã đề cập ở trên. Có càng nhiều vấn đề thì sẽ có càng nhiều hồ sơ con.Nếu tài liệu có liên quan đến nhiều vấn đề cùng lúc thì không nen xếp chúng vào hồ sơ con.
    -Nếu mục đích công việc là để đạt tầm nhìn tổng quan của chủ đề nghiên cứu nhưng chưa có ý tưởng về tầm nhìn cấu trúc của cái nhìn tổng quan thì khi xem lướt nên ghi nhận bằng một cụm từ mô tả nội dung thông tin cần khai thác và đánh dấu nội dung tương ứng trong tài liệu. Cụm từ này sẽ được sắp xếp vào những đề mục tạo ra theo một thứ tự logic và công việc xác định kết cấu(sắp xếp các đề mục)của bào tổng quan sẽ được hoàn chỉnh dần trong quá trình khai thác thông tin.
    -Nếu đã có ý tưởng và có cấu trúc của bài tổng quan hoặc mục đích của công việc là đi sâu nghiên cứu một số vấn đề của chủ thể xem xét thì khi xem lướt chỉ nên chú ý những nội dung thông tin liên quan đến các đề mục hoặc các vấn đề quan tâm.
    Khi đã xây dựng được kết cấu của bản báo cáo và có thể tiếp cận tới các nội dung thông tin tương ứng.
    5-Lưu trữ thông tin
    Kết quả của quy trình khai thác xử lí thông tin cần được lưu trữ để sử dụng lâu dài và phải tuân theo các quy định của cơ quan có thẩm quyền.Trong quá trình lưu trữ phải tuân theo các tiêu chí đánh giá để xác định một phương tiện lưu trữ đảm bảo tính ưu việt như:
    -Lưu trữ ít nhất trong vòng 10 năm.
    -Dung lượng lưu trữ.
    -Có những phần mềm,dịch vụ phát hiện và sửa lỗi hiệu quả.
    -Công nghệ hãng sản xuất có tên tuổi trên thị trường.
    -Chi phí thấp.
    Ngày nay,Công nghệ ngày càng phát triển nên thường lưu trữ thông tin trên các thiết bị nhớ như băng từ, đĩa cứng và đĩa CD, VCD, đĩa lưu trữ trực tuyến…
    6-Xây dựngbáo cáo và truyền đạt thông tin.
    Việc xây dựng báo cáo là bước cuối cùng của công việc tìm kiếm và khai thác thông tin.Báo cáo không cần dài dòng chi tiết nhưng phải rành mạch và chính xác về các nội dung thông tin đã thu thập và việc dẫn các tài liệu đã truy cập được.
    Trước hết cần phân tích nội dung thông tin theo đề mục(chủ đề,vấn đề,vấn đề nhỏ hơn) trên cơ sở các tư liệu đã được tích lũy.Kết quả cuối cùng của việc khai thác thông tin gắn với một mục đích tìm kiếm nhất định bao gồm:
    -Báo cáo kết quả tìm kiếm và khai thác thông tin.
    -Hồ sơ chủ đề trong đó có chứa các tài liệu thông tin liên được truy cập và các hồ sơ còn tương ứng,nếu có nhu cầu nghiên cứu sâu một vấn đề.
    Các kết quả xử lí thông tin được truyền đạt đến các tổ chức có nhu cầu sử dung thông tin.Thông tin kết quả được truyền đạt đến các tổ chức có nhu cầu sử dụng thông tin.Thông tin kết quả được truyền đat nội bộ đến các bộ phận bên trong của hệ thống quản lí để hướng dẫn thực hiện.Thông tin kết quả của quy trình xử lí thông tin được gửi đến các cơ quan và tổ chức bên ngoài hệ thống quản lí để thông báo.




















    "Học làm việc,làm người, làm cán bộ"
  2. 15-08-2011, 11:40 AM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 15-08-2011, 11:40 AM
    Bài viết: 25
    aheart_of_angel is offline
    #2

    Default Chữ kí điện tử và chữ kí số,

    Bài này của nhóm tớ làm!Sao bạn lại có thế nhở???
  3. 15-08-2011, 09:15 PM
    Chuyên viên cao cấp
    Bắt đầu vào 15-08-2011, 09:15 PM
    Bài viết: 2,107
    hoangtunapa90 is offline
    #3

    Default Chữ kí điện tử và chữ kí số,

    vì mình cũng ở trong nhóm bạn mà hihi thế ngưới có được bài của nhóm bạn chỉ là giảng viên và thành viện của nhóm bạn tớ là một trong hai người cậu chọn đi hihi
    "Học làm việc,làm người, làm cán bộ"
  4. 20-08-2011, 10:35 AM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 20-08-2011, 10:35 AM
    Bài viết: 25
    aheart_of_angel is offline
    #4

    Default Chữ kí điện tử và chữ kí số,

    ồh!mem nhóm tớ toàn là girl mà!không thể có hoàng tử được và càng ko thể là thầy Thắng!!!hehe,hay bài của nhóm tớ tốt quá nên được để public chăng???
  5. 21-08-2011, 08:58 PM
    Chuyên viên cao cấp
    Bắt đầu vào 21-08-2011, 08:58 PM
    Bài viết: 2,107
    hoangtunapa90 is offline
    #5

    Default Chữ kí điện tử và chữ kí số,

    Trích Nguyên văn bởi aheart_of_angel View Post
    ồh!mem nhóm tớ toàn là girl mà!không thể có hoàng tử được và càng ko thể là thầy Thắng!!!hehe,hay bài của nhóm tớ tốt quá nên được để public chăng???
    theo bạn là thế ah sai rồi ban ah
    "Học làm việc,làm người, làm cán bộ"
  6. 28-03-2012, 03:41 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 28-03-2012, 03:41 PM
    Bài viết: 1
    cestmoivn is offline
    #6

    Default Chữ kí điện tử và chữ kí số,

    lâu lâu vào lại diễn đàn
    quan trọng nhất lại không thấy nhắc đến đó là các dịch vụ chứng thực chỉ thực sự cần thiết khi việc ứng dụng cntt trở lên sâu và rộng. Bản chất vấn đề là ở chỗ ít có phần mềm ứng dụng để triển khai chứng thực. VP không giấy tờ mà mấy hãng cung cấp CA vừa kể chính là cốt lõi.
    mình chẳng thấy cái vấn đề qlnn được nhắc đến hay để topic sau thì không rõ
  7. 25-03-2013, 02:52 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 25-03-2013, 02:52 PM
    Bài viết: 1
    minhnhu4390 is offline
    #7

    Default Chữ kí điện tử và chữ kí số,

    Xem thêm chu ky so tại

    ---------- Post added at 02:52 PM ---------- Previous post was at 02:51 PM ----------

    Xem thêm chu ky so tại http://chukysohcm.com/dich-vu-chu-ky-so-vnpt/

Tags:

None