Lưu ý: Tiểu luận mang chỉ mang tính tham khảo.
Người thực hiện: Tuấn Public


LỜI MỞ ĐẦU…

Qua thực tiễn hơn 25 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về nhiều mặt kinh tế - chính trị - văn hóa và xã hội, đời sống nhân dân ngày càng đuợc cải thiện và nâng cao, Việt Nam ngày càng đóng vai trò quan trọng, khẳng định vị thế của mình trên chính trường, thương trường khu vực và trên toàn thế giới.
Ngày nay, đất nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế trong nước chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với những bước tăng trưởng mạnh mẽ thông qua các kết quả tăng trưởng GDP hàng năm. Đây vừa là cơ hội, động lực, song lại là thách thức rất lớn về nhu cầu hành cải cách hành chính công, nhằm đáp ứng, theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế, văn hóa trong xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Các nội dung của cải cách hành chính công hướng tới xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hóa, phục vụ tốt hơn nhu cầu thiết yếu, đảm bảo các quyền nghĩa vụ cơ bản của người dân.
Để giải quyết triệt để các các bất cập trong cơ chế vận hành của bộ máy quản lý tại các cơ quan nhà nước, từng bước tăng cường hiệu lực hiệu quả, ngày 17/01/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 30/QĐ-TTg, được gọi là Đề án 30, đơn giản hóa thủ tục hành chính, được thực hiện đồng bộ, từ trung ương tới cơ sở, với sự tham gia của cả hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, cũng như của mọi người dân và doanh nghiệp trong giai đoạn 2007-2010. Thực hiện tốt Đề án này sẽ giải quyết cơ bản về thể chế, quan điểm, phương thức của bộ máy hành chính trong hoạt động hành chính công, lấy công dân làm trung tâm, theo đúng tinh thần, quan điểm lãnh đạo của Đảng ta là “xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân”.
Thông qua quá trình hội nhập, chúng ta đã tiếp cận, học tập được thành tựu cũng như cái cần đổi mới từ các quốc gia phát triển và một trong những yếu tố cấu thành sự phát triển đó có thể kể đến là phát triển ngành Công nghệ thông tin như Đảng ta đã xác định “Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” tại Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000.
Trong những năm qua, ngành Công nghệ thông tin đã có những bước tiến quan trọng, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước trên nhiều lĩnh vực văn hóa, kinh tế, xã hội. Công nghệ thông tin Việt Nam đã được xác lập trên bản đồ tin Công nghệ thông tin thế giới thông qua các kết quả đánh giá hàng năm của các tổ chức quốc tế như ITU (chỉ số về phát triển Công nghệ thông tin), diễn đàn kinh tế thế giới (chỉ số NRI về mức độ hưởng lợi từ sự phát triển Công nghệ thông tin) hay báo cáo xếp hạng Chính phủ điện tử của Liên hợp quốc. Những kết quả này được phản ánh một thực tế quyết tâm, nỗ lực rất lớn của Chính phủ đối với ngành Công nghệ thông tin, được thể hiện thông qua hệ thống các văn bản, nghị quyết, chỉ thị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ liên quan đến Công nghệ thông tin, cụ thể:
- Quốc hội khóa XI đã ban hành Luật Công nghệ thông tin ngày 29/6/2006, trong đó đã quy định cụ thể về nguyên tắc, điều kiện, nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước.
- Thực hiện Luật Công nghệ thông tin, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Nghị định này quy định cụ thể về việc xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin, cung cấp nội dung thông tin, phát triển nguồn nhân lực tin học, đầu tư cho ứng dụng tin học. Qua đó, Chính phủ cũng đã thể hiện quyết tâm đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước nhằm cải tiến và minh bạch các quy trình công việc, thủ tục hành chính. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho phép các cơ quan xây dựng kế hoạch ứng dụng Công nghệ thông tin của riêng mình trong giai đoạn từ nay đến năm 2010. Nghị định đã giúp cho quá trình thu thập những yếu tố cần thiết và nền tảng pháp lý ban đầu cho việc xây dựng Chính phủ điện tử.
- Tiếp theo nhằm cụ thể hóa Nghị định 64/2007/NĐ-CP, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước năm 2008 (Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg ngày 24/3/2008) và Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009-2010 (Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg ngày 31/3/2009) với các mục tiêu tập trung, cụ thể: (1) Nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước, (2) Phục vụ người dân và doanh nghiệp.

I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI ỨNG DỤNG TIN HỌC TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Ứng dụng tin học trong quản lý hành chính nhà nước đóng một vai trò quan trọng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Bối cảnh quốc tế và trong nước đặt ra sự cần thiết tất yếu của sự thay đổi này.
Một mặt, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hoá, công nghệ năng lượng v.v.. nền kinh tế thế giới đang biến đổi rất sâu sắc, mạnh mẽ về cơ cấu, về chức năng, về phương thức hoạt động. Đây là một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại: nền kinh tế thế giới đang chuyển từ kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế thông tin – kinh tế tri thức, nền văn minh loài người đang chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ.
Mặt khác, Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định phải đẩy mạnh CNH, HĐH để đến khoảng năm 2020 nước ta về cơ bản sẽ trở thành nước công nghiệp, đồng thời cũng xác định là chúng ta sẽ phải “tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ tiên tiến, hiện đại về khoa học và công nghệ, đặc biệt là tin học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu công nghệ hiện đại và tri thức mới, từng bước phát triển kinh tế tri thức”.
Ứng dụng tin học và tin học trong quản lý hành chính nhà nước nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính điện tử (Chính phủ điện tử); giúp cho việc xử lý thông tin nhanh, chính xác, đầy đủ, phục vụ tốt cho tổ chức, người dân và doanh nghiệp. Ứng dụng tin học trong quản lý hành chính Nhà nước là vấn đề qua trọng trong tình hình hiện nay; việc đẩy mạnh việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin góp phần phục vụ và phát triển kinh tế - xã hội; đóng góp trực tiếp và hiệu quả cho cải cách hành chính Nhà nước, cho sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới – khi cả nước cùng toàn nhân loại đang bước vào một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của kinh tế tri thức.




II. NHỮNG LỢI ÍCH MANG LẠI TỪ VIỆC ỨNG DỤNG TIN HỌC TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Tại Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000, Đảng ta đã xác định “Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.
Ứng dụng tin học trong hoạt động của các cơ quan nhà nước góp phần nâng cao năng lực quản lý điều hành của các cơ quan nhà nước, phục vụ tốt hơn, có hiệu quả hơn cho người dân và doanh nghiệp và góp phần đẩy nhanh tiến trình đơn giản hóa thủ tục hành chính. Cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính cần được chứng minh theo một cách nhanh chóng, có thể đo lường được cần phải ứng dụng tin học, ngược lại ứng dụng tin học phải được xem là chìa khóa để “mở và đo lường được” nhận thức về công khai, minh bạch trong công cuộc cải cách thủ tục hành chính như các quốc gia phát triển đã từng thành công.

III. MỤC TIÊU CỦA VIỆC ỨNG DỤNG TIN HỌC TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Trong những năm qua, việc đưa công nghệ thông tin (tin học) vào quản lý hành chính Nhà nước được Đảng và Nhà nước quan tâm, chú trọng. Với mục tiêu là đẩy mạnh việc ứng dựng tin học vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước trong các lĩnh vực nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp với các mục tiêu chủ yếu là:
Thứ nhất, xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ cơ quan nhà nước: xây dựng khai thác, duy trì và nâng cấp cơ sở hạ tầng thông tin của cơ quan mình theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quy định; xây dựng và duy trì cơ sở dữ liệu quốc gia đáp ứng giao dịch điện tử qua các phương tiện truy nhập thông tin Internet thông dụng của xã hội; tạo các điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân dễ dàng truy nhập thông tin và dịch vụ hành chính công trên môi trường mạng; tăng cường hướng dẫn phương pháp truy nhập và sử dụng thông tin, dịch vụ hành chính công trên môi trường mạng.
Thứ hai, cung cấp thông tin phục vụ cơ quan nhà nước, cá nhân, doanh nhiệp: cung cấp, tiếp nhận thông tin trên môi trường mạng tạo điều kiện cho người dân tiếp cận nhanh chóng, dễ dàng; xây dựng thống nhất biểu mẫu điện tử trong giao dịch giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân; tăng cường cung cấp các dịch vụ hành chính công liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước (hoặc tổ chức, doanh nghiệp được ủy quyền) có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực quản lý nhà nước thông qua môi trường mạng.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong xử lý công việc, tăng cường sử dụng văn bản điện tử trong công tác quản lý, điều hành và trao đổi thông tin; đẩy mạnh ứng dụng chữ ký số, từng bước thay thế văn bản giấy trong quản lý, điều hành và trao đổi thông tin. Tăng cường sử dụng, khai thác các hệ thống thông tin; Đẩy nhanh việc xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành, đồng thời số hóa những nguồn thông tin chưa ở dạng số nhằm đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin, phục vụ quản lý, nghiên cứu và tích hợp vào cơ sở dữ liệu chung.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực công nghê thông tin của cơ quan nhà nước và tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo về kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lý công việc.
Thời gian qua, việc ứng dụng tin học trong quản lý hành chính đã tạo bước chuyển biến rõ nét nâng cao chất lượng dịch vụ công, làm cho nền hành chính ngày càng thông thoáng. Tuy nhiên, để công tác tin học hóa hành chính phù hợp với tiến độ tin học hóa xã hội, trong thời gian tới cần tập trung một số nội dung chủ yếu như sau:
- Nâng cao các hoạt động hành chính theo hướng đơn giản có hiệu quả. Thực hiện tin học hóa các quy trình phục vụ nhân dân thuộc các lĩnh vực công, ứng dụng tin học trong xử lý quy trình công việc ở nội bộ cơ quan hành chính, trong giao dịch với các cơ quan hành chính khác và trong giao dịch với các tổ chức, cá nhân... Kết hợp việc ứng dụng và phát triển Công nghệ thông tin với việc thực hiện cải cách hành chính trong cơ quan nhà nước và việc thực hiện hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO.
- Đầu tư xây dựng và củng cố cơ sở hạ tầng mạng, đẩy mạnh tin học hóa trong các cơ quan hành chính Nhà nước. Hoàn thiện hệ thống tổ chức phục vụ tin học hóa hành chính và hoàn thiện cơ sở pháp lý.
- Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức viên chức về vai trò quan trọng của tin học. Đào tạo đội ngũ nhân lực để phục vụ cho tin học, từng bước phổ cập sử dụng máy tính và Internet ở các cấp.
- Có chính sách khuyến khích đầu tư, phát huy tiềm năng, thế mạnh hiện có, coi Công nghệ thông tin là động lực cho phát triển kinh tế xã hội, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội, tăng cường thương mại dịch vụ, tạo tăng trưởng kinh tế bền vững...

LỜI KẾT
Sự tụt hậu về ứng dụng tin học trong hành chính nhà nước chính là sự tụt hậu về năng lực, phương thức điều hành nền hành chính. Nếu không thay đổi cách tiếp cận trong việc đưa ứng dụng tin học vào nền hành chính, sự tụt hậu sẽ còn chưa biết đến khi nào dừng. Có thể nói "Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước vừa là phương tiện, vừa là áp lực đối với cải cách quản lý hành chính nhà nước".
Mục tiêu của ứng dụng tin học trong quản lý hành chính nhà nước là tạo ra một phương thức vận hành thông suốt, hiệu quả của bộ máy công quyền, thông qua việc sử dụng các hệ thống thông tin điện tử. Do vậy, các ứng dụng tin học phải được thiết lập trên cơ sở "đơn đặt hàng" của bộ máy quản lý hành chính nhà nước và nhờ tính năng đặc biệt của công nghệ mà những mục tiêu thiết lập một bộ máy hành chính hoạt động hiệu quả, năng động và chất lượng sẽ được thực hiện. Chính cải cách hành chính là chủ thể đưa ra mục tiêu, yêu cầu cho việc thiết lập các hệ thống tin học. Mức độ cải cách hành chính sẽ quyết định quy mô, phạm vi của tin học, chứ không phải ngược lại.
Một cách nhìn khác, chính ứng dụng tin học sẽ là một trong các giải pháp nhằm đạt mục tiêu của cải cách hành chính. Vì cải cách hành chính là nhằm đến tính hiệu quả, chất lượng trong cách thức hoạt động, điều hành của bộ máy quản lý hành chính nhà nước; là làm cho bộ máy chuyển từ chức năng "chèo thuyền" sang "lái thuyền", chuyển từ hành chính "xin - cho" sang hành chính "phục vụ”; và làm cho nền hành chính có khả năng kiểm soát lãng phí, thất thoát và tham nhũng. Điều đó đòi hỏi các hoạt động phải được quy trình hóa, phải rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, về các hoạt động và các mối quan hệ... Qua đó sẽ tạo được yếu tố "công khai, minh bạch" trong nền hành chính. Quá trình thiết lập các hệ thống tin học trong cơ quan quản lý hành chính nhà nước phải xuất phát từ quá trình thiết lập trật tự các quy trình, các cơ chế và các mối quan hệ giữa các chức năng, các cơ quan và các cấp.
Hệ thống tin học ứng dụng được quyết định bởi phần "ứng dụng", tức là phần thiết lập các hệ thống thông tin, hệ thống các cơ sở dữ liệu, các quy trình vận hành, và luân chuyển thông tin do bộ máy hành chính thực hiện. Phần công nghệ gồm phần cứng, phần mềm, mạng, đào tạo sử dụng, chỉ là phương tiện để chuyển các quy trình vận hành bằng phương thức hành chính truyền thống thành quy trình điện tử. Nếu không xuất phát từ cách tiếp cận này, rất có thể những sai lầm cũ sẽ tiếp tục lặp lại.
Mua sắm công nghệ là công đoạn dễ nhất, đơn giản nhất. Song yếu tố quyết định đến kết quả của chương trình tin học hóa quản lý quản lý hành chính nhà nước phải là việc xây dựng hệ thống thông tin điện tử xuất phát từ việc thiết lập lại và thay đổi các quy trình, thay đổi cách thực hiện các thủ tục hành chính, thay đổi cách thức giao tiếp, làm việc giữa các cơ quan với nhau và giữa các cơ quan với công dân, doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và trên hết là nhận thức, cách tiếp cận và ý chí của bộ máy quản lý hành chính nhà nước và hệ thống chính trị./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Văn kiện Đại hội toàn quốc của Đảng lần thứ IX, X, NXB Chính trị Quốc gia;
2. Giáo trình Tin học ứng dụng trong Quản lý Hành chính, Học viện Hành chính;
3. Giáo trình Tin học đại cương, Học viện Hành chính;
4. Tập bài giảng Thông tin trong Quản lý Hành chính Nhà nước, Học viện Hành chính;
5. Luật Công nghệ thông tin ký ngày 29/6/2006;
6. Đề án 30, tức Quyết định số 30/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 17/01/2007;
7. Chỉ thị số 58-CT/TW ký ngày 17/10/2000;
8. Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ký ngày 10/4/2007 về Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước của Chính phủ;
9. Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước năm 2008 (Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg ngày 24/3/2008) và Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009-2010 (Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg ngày 31/3/2009) của Thủ tướng Chính phủ;
10. Một số tài liệu từ các website của Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông, Cục Công nghệ thông tin, website Cải cách Hành chính, Diễn đàn Sinh viên Hành chính, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia v.v..