Mục lục
I. Khái quát chung
1. Nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước
2. Những nguyên tắc và yêu cầu cơ bản đối với quản lý chi ngân sách nhà nước.
II. Bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam
1. Khái niệm bội chi ngân sách nhà nước
2. Nguyên nhân của bội chi ngân sách nhà nước
3. Ảnh hưởng của bội chi ngân sách nhà nước tới nền kinh tế
III. Đề xuất giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước
1. Tăng thu, giảm chi
2. Vay nợ
3. Vay nợ ngân hàng – in tiền
4. Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước
IV. Tổng kết.



















I. Khái quát chung về ngân sách nhà nước
Theo luật ngân sách nhà nước thì ngân sách nhà nước được định nghĩa là: toàn bộ những khoản thu chi của nhà nước được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và được thực hiện trong một năm nhằm thực hiện chức năng nhiệm vụ của nhà nước.
Như vậy theo như định nghĩa thì quản lý chi ngân sách nhà nước cũng là một phần quan trọng trong quản lý ngân sách nhà nước.
Theo cách hiểu đơn thuần thì quản lý chi ngân sách nhà nước là quản lý những khoản chi tiêu của nhà nước , và nó được thực hiện bởi chủ thể là những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức cá nhân được nhà nước trao quyền.
1. Nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước.
Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối sử dụng quỹ ngân sách nhà nước theo những nguyên tắc nhất định cho việc thực hiện những nhiệm vụ của nhà nước. Thực chất, chi ngân sách nhà nước chính là việc cung cấp các phương tiện tài chính cho việc thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước. Chi ngân sách nhà nước có các đặc điểm sau:
Chi ngân sách nhà nước luôn gắn với nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà nhà nước phải đảm nhận. Mức độ và phạm vi chi tiêu ngân sách nhà nước phụ thuộc vào nhiệm vụ của nhà nước trong từng thời kỳ.
Tính hiệu quả của các khoản chi ngân sách nhà nước được thể hiện ở tầm vĩ mô và mang tính toàn diện cả về kinh tế, xã hội, chính trị và ngoại giao.
Các khoản chi ngân sách nhà nước đều là các khoản cấp phát mang tính không hoàn trả trực tiếp.
Chi ngân sách nhà nước thường liên quan đến phát triển kinh tế xã hội, tạo việc làm mới, thu nhập, giá cả và lạm phát…
- Nhiệm vụ chi Ngân sách nhà nước bao gồm:
+ Chi thường xuyên: gồm các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, khoa học, công nghệ và môi trường, các sự nghiệp khác; các hoạt động sự nghiệp kinh tế; quốc phòng, an ninh và an toàn xã hội; hoạt động của các cơ quan nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị xã hội; trợ giá theo chính sách của nhà nước, các chương trình quốc gia; hỗ trợ bảo hiểm xã hội, trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội, hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp; các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
+ Chi đầu tư phát triển: đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; đầu tư hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của nhà nước; mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước, chi bổ sung dự trữ nhà nước; các khoản chi khác theo quy định của nhà nước; các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
+ Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay.
+ Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính.
+ Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới.
2. Những nguyên tắc và yêu cầu cơ bản đối với quản lý chi ngân sách nhà nước.
Chi ngân sách nhà nước nhằm mục tiêu cung cấp tài chính cho việc thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị và xã hội của nhà nước trên cơ sở các chức năng, nhiệm vụ vốn có của nhà nước. Quản lý chi ngân sách nhà nước là việc lập kế hoạch, đề xuất các chính sách, tổ chức, điều hành và kiểm tra mọi khoản chi tiêu từ ngân sách nhà nước.
a. Các nguyên tắc quản lý chi ngân sách nhà nước:
- Nằm trong khả năng chi trả ngân sách nhà nước ( đảm bảo kỷ luật tài khóa tổng thể). Điều này đòi hỏi lập dự toán ngân sách mang tính tổng hợp thể hiện được toàn bộ các khoản chi tiêu của chính phủ. Việc xây dựng ngân sách do vậy phải dựa vào tình hình kinh tế vĩ mô. Nhận biết được các tác động của ngân sách đối với nền kinh tế vĩ mô và dự toán ngân sách phải hợp lý và có khả năng thực hiện được.
- Nguyên tắc phân bố hiệu quả: nguyên tắc này đòi hỏi kế hoạch chi tiêu phải phù hợp với thứ tự ưu tiên trong chính sách và giới hạn trần của ngân sách. Từ đó có khả năng lựa chọn giữa các chương trình mang tính cạnh tranh trong khi nguồn lực có hạn dựa trên các mục tiêu chiến lược.
- Nguyên tắc sử dụng có hiệu quả: để có thể biết được các khoản chi tiêu sử dụng có hiệu quả hay không đòi hỏi phải thực hiện việc đánh giá dựa vào kết quả công việc. nguyên tắc này cũng xem xét các khía cạnh về tính linh hoạt trong quản lý và cả khả năng dự đoán được kết quả và mục tiêu đã định.
b. Các yêu cầu về chi ngân sách nhà nước:
Để dảm bảo các nguyên tắc trên, chi ngân sách nhà nước cần đáp ứng các yêu cầu như:
- Thứ nhất, Nhà nước phân định và nó trí các khoản chi ngân sách tương ứng với các nguồn thu thích hợp:
+ Chi tiêu thường xuyên chỉ được sử dụng trong phạm vi từ nguồn thu trong nước (thuế, phí, lệ phí) và viện trợ nhân đạo;
+ Chi trả nợ gốc nước ngoài trong một phạm vi tỷ lệ quy định trong chi ngân sách;
+ Chi đầu tư phát triển được xác định một tỷ lệ thich hợp trong tổng số chi ngân sách để đảm bảo yêu cầu tăng trưởng kinh tế.
- Thứ hai, chi ngân sách phải được thực hiện vai trò điều tiết kinh tế và phát triển kinh tế:
Thông qua chi ngân sách phân phối vốn cho các mục tiêu có tầm quan trọng lớn để hình thành cơ cấu ngành, cơ cấu sản xuất hiện đại; tập trung đầu tư cho các ngành kinh tế mũi nhọn, đổi mới công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiến bộ khoa học kỹ thuật, đào tạo, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.
- Thứ ba, tinh giản bộ máy nhà nước đảm bảo gọn nhẹ, năng động, có hiệu lực. sắp xếp lại bộ máy, chấn chỉnh định biên, tiêu chuẩn hóa cán bộ theo chức danh. Thực hiện công cuộc cải cách triệt để nền hành chính quốc gia.
- Thứ tư, quán triệt nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả kinh tế trong mọi khoản chi ngân sách.
- Thứ năm, đảm bảo thu chi ngân sách theo kế hoạch trong phạm vi khả năng thu, tích cực thu đảm bảo nhu cầu chi, hạn chế bội chi ngân sách nhà nước. Chỉ được chi trong phạm vị dự toán được duyệt.
- Thứ năm, quản lý chi ngân sách theo đúng luật pháp, chính sách, chế độ, nguyên tắc, đúng mục tiêu chuẩn định mức, được thủ trưởng đơn vị quyết định chi và chịu sự kiểm soát của kho bạc nhà nước.
c. Nội dung quản lý chi ngân sách nhà nước.
Quản lý chi ngân sách nhà nước là việc đề xuất các chính sách chi ngân sách, lập kế hoạch, tổ chức, điều hành chi ngân sách nhà nước. Các nội dung cụ thể của quản lý chi ngân sách nhà nước là:
• Ban hành các chính sách, chế độ và định mức chi ngân sách nhà nước.
- Ban hành các chính sách về chi ngân sách nhà nước.
Nhà nước xây dựng các chính sách về chi ngân sách nhà nước theo các mục tiêu mà nhà nước đề ra. Các nội dung chủ yếu của chi ngân sách nhà nước là:
+ Xóa bỏ bao cấp vốn trong kinh tế, giảm bớt chi bu lỗ, chỉ tập trung vào lĩnh vực cần thiết, cấp bách, đảm bảo vai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước.
+ Chú trọng đầu tư cho các mục tiêu chiến lược kinh tế - xã hội ( các ngành kinh tế mũi nhọn, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, các dự án huy động được nhiều lao động nhằm tận dụng nhân lực, đầu tư máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại.
+ Chi thường xuyên không vượt quá nguồn thu từ thuế, phí lệ phí trong nước.
+ Tăng chi hợp lý cho các mục tiêu trọng điểm : giáo dục – đào tạo, y tế, xã hội( chú ý công tác dân số, xóa đói giảm nghèo và khắc phục tệ nạn xã hội).
+ Thực hiện triệt để tiết kiệm và nâng cao hiệu quả mọi khoản chi. Hoàn thiện cơ chế chính sách chi tiêu của nhà nước đúng đối tượng, mục đích, có hiệu quả. Hình thành các quỹ dự trữ quốc gia đủ mạnh (quỹ dự trữ tài chính, ngoại tệ, kim khí quý, vật tư chiến lược).
- Ban hanh các chế độ, định mức vê chi ngân sách nhà nước.
Nhà nước ban hành các chế độ, định mức về chi ngân sách, tạo cơ sở để quản lý chi ngân sách, tạo cơ sở để quản lý chi ngân sách một cách khoa học và thống nhất. có hai loại định mức chi ngân sách nhà nước:
+ Đ ịnh mức phân bổ ngân sách. Đây là căn cứ để xây dựng và phân bổ ngân sách cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và các địa phương.
Thẩm quyền quyết định mức phân bổ ngân sách theo chế độ hiện hành như sau: Thủ tướng chính phủ quyết định định mức phân bổ ngân sách nhà nước làm căn cứ để xây dựng và phân bổ ngân sách cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và các địa phương. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào định mức phân bổ ngân sách nhà nước do thủ tướng chính phủ ban hành, khả năng tài chính – ngân sách và đặc điểm tình hình ở địa phương, quyết định định mức phân bổ ngân sách lam căn cứ xây dựng dự toán và phân rbổ ngân sách ở địa phương.
+ Định mức chi tiêu: Định mức chi tiêu là những chế độ, tiêu chuẩn làm căn cứ để thực hiện chi tiêu và kiểm soát chi tiêu ngân sách. Theo chế độ hiện hành, thẩm quyền ban hành định mức chi tiêu như:
Chính phủ quyết định những chế độ ngân sách quan trọng, phạm vi ảnh hưởng rộng, lien quan đến việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội của cả nước.
Thủ tướng chính phủ quyết định các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu thực hiện thống nhất trong cả nước.
Bộ trưởng Bộ tai chính quyết định chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách đối với các ngành lĩnh vực sau khi thống nhất với các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực.
Đối với một số nhiệm vụ chi có tính chất đặc thù ở địa phương trên cơ sở nguồn ngân sách địa phương được đảm bảo. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quyết định chế độ chi ngân sách phù hợp với các đặc điểm thực tế ở địa phương
Các cơ quan có thẩm quyền ban hành các chế độ, định mức chi ngân sách phải được định kỳ rà soát lại các định mức tiêu chuẩn chi tiêu cho phù hợp với yêu cầu thực tế và nguồn lực ngân sách. Đồng thời, tiếp tục ban hành các chế độ, định mức chi theo nhu cầu thực tế.
• Tổ chức điều hành chi ngân sách nhà nước.
Việc tổ chức điều hành chi ngân sách dựa trên dự toán ngân sách nhà nước đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Hàng năm, các cơ quan đơn vị có sử dụng ngân sách nhà nước phải lập dự toán trình các cấp có thẩm quyền phê duyệ. Dự toán ngân sách nhà nước của cả nước được Chính phủ tổng hợp trình Quốc hội quyết định. Quốc hội tiến hành phân bổ dự toán ngân sách trung ương; hôi đồng nhân dân các cấp phân bổ dự toán ngân sách của cấp mình. Dự toán chi ngân sách nhà nước được lập dựa vào các căn cứ sau:
- Nhiệm vụ cụ thể của các Bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan khác ở trung ương và các cơ quan nhà nước ở địa phương.
- Cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách các cấp và tỷ lệ % phân chia các khoản thu và mức bổ sung cho ngân sách cấp dưới (trong năm tiếp theo của thời kỳ ổn định).
- Lập ngân sách nhà nước dựa trên các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức hiện hành về thu chi ngân sách nhà nước như chi tiền lương, sinh hoạt phí cho cán bộ, v.v…
- Đối với các cơ quan thụ hưởng ngân sách, viêc lập dự toán ngân sách cho ngân sách của cơ quan phải dựa vào số kiểm tra về dự toán ngân sách được thông báo.
Căn cứ thực hiện chi ngân sách nhà nước:
Trên cơ sở dự toán ngân sách nhà nước đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, việc thực hiện các khoản chi ngân sách nhà nước phải đảm bảo các điều kiện :
+ Thứ nhất, chi ngân sách nhà nước phải được thực hiện theo đúng dự toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
+ Thứ hai, chi ngân sách nhà nước phải đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định.
+ Thứ ba, đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền quyết định chi.
Ngoài các điều kiện nói trên, trường hợp sử dụng vốn, kinh phí ngân sách nha nước để đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc và các công việc khác phải qua đấu thầu hoặc thẩm định giá theo quy định của pháp luật.
Các khoản chi có tính chất thường xuyên được chia đều trong năm để chi. Các khoản chi có tnhs chất thường thời vụ hoặc phát sinh vào một số thời điểm như đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm, sửa chữa lớn và các khoản chi có tính chất không thường xuyên khác phải thực hiện theo đúng dự toán quý.
• Kiểm tra, giám sát chi ngân sách nhà nước.
Cơ quan tài chính có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi tiêu và sử dụng ngân sách ở các cơ quan, đơn vị. trường hợp phát hiện các khoản chi vượt nguồn cho phép, chi sai chính sách, chế độ thì cơ quan tài chính có thẩm quyền yêu cầu Kho bạc nhà nước tạm dưng thanh toán các khoản chi.
Kho bạc nhà nước thực hiện việc thanh toán, chi trả các khoản chi ngân sách nhà nước căn cứ vào dự toán được giao, quyết định chi của thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách và tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết khác theo quy định. Trường hợp phát hiện không đủ điều kiện chi thì có quyền từ chối các khoản chi.
Cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc sử dụng ngân sách thuộc ngành, lĩnh vực do cơ quan quản lý và của các đơn vị trực thuộc, chịu trách nhiệm về những sai phạm của các đơn vị, tổ chức trực thuộc.
Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản nhà nước theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức, đúng mục đích, tiết kiệm hiệu quả. Trường hợp vi phạm, tùy theo tính chất và mức độ sẽ bị xử lý lỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
• Như vậy. qua phân tích những nét cơ bản về nhiệm vụ thu chi ngân sách thì rõ ràng chi ngân sách là vấn đề quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hôi đất nước. Nhưng thực tế việc cân đối cán cân thu chi ngân sách của nhà nước là là một công việc khó khăn và phức tạp. Nếu không có tính toán bước đi phù hợp gây hậu quả nghiêm trọng đến tình hình kinh tế xã hội đất nước. có thể thấy như bội chi ngân sách nhà nước đang là một vấn đề kinh tế xã hội nhiều nước đang quan tâm và gặp phải, trong đó có cả Việt Nam.
II. Bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam
1. Khái niệm bội chi ngân sách nhà nước.
Bội chi ngân sách nhà nước là một vấn đề mà các quốc gia đều phải gặp phải. Việc xử lý bội chi ngân sách nhà nước là một vấn đề nhạy cảm, xử lý không chỉ tác động trước mắt tới nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Vì vậy mỗi quốc gia đều có những biện pháp thích hợp nhằm khắc phục bội chi ngân sách đưa bội chi ngân sách nhà nước đến một mức nhất định. Và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang có những biến động lớn như: giá xăng dầu tăng cao, khủng hoảng tài chính toàn cầu, tình trạng lạm phát diễn ra ở nhiều nước trên thế giới, vấn đề khiến cho lạm phát đặt ra vô cùng cấp bách không chỉ ở việt nam.
Vậy xử lý bội chi ngân sách như thế nào để ổn định vĩ mô, thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến lược kinh tế xã hội, tăng trưởng kinh tế và kìm chế lạm phát hiện nay? Các giải pháp là gì?
Theo cách hiểu chung nhất thì bội chi ngân sách nhà nước là tình trạng mất cân đối của ngân sách nhà nước khi mà thu ngân sách nhà nước không đủ bù đắp cho chi ngân sách nhà nước trong một thời kỳ nhất định gọi là bội chi ngân sách.
Có thể minh họa bội chi ngân sách nhà nước bằng cân đối thu-chi ngân sách như sau:

Thu Chi

A. Thu thường xuyên
(thuế, phí, lệ phí) D. Chi thường xuyên
B. Thu về vốn
(bán tài sản nước ngoài) E. chi đầu tư
C. Bù đắp thâm hụt
- Viện trợ
- Lấy từ nguồn dự trữ
- Lấy từ nguồn dự trữ
- Vay thuần(=vay mới trả nợ gốc F. Cho vay thuần
(bằng cho vay mới – thu nợ gốc)

A+B+C=D+E+F
Công thức tính bội chi ngân sách nhà nước của 1 năm sẽ là:
Bội chi ngân sách nhà nước = tổng chi –tổng thu=(D+E+F)-(A+B)=C
Bội chi ngân sách nhà nước trong một thời kỳ(1 năm, 1 chu kỳ kinh tế) là số chênh lệch giữa chi lớn hơn thu thời kỳ đó.
2. Nguyên nhân của bội chi ngân sách nhà nước.
Có hai nguyên nhân cơ bản của bội chi ngân sách nhà nước.
- Thứ nhất:
Do tác động của chu kỳ kinh doanh, khủng hoảng lạm chi làm cho thu nhập của nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết khó khăn mới về kinh tế xã hội. Điều đó làm cho mức độ bội chi ngân sách ngân sách nhà nước tăng lên trong giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng. điều đó làm giảm mức bội chi ngân sách nhà nước. Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ
- Thứ hai:
Do tác động của chính sách cơ cấu thu chi của nhà nước. Khi nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi ngân sách nhà nước. Ngược lại thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dung của nhà nước thì mức bội chi ngân sách nhà nước sẽ giảm bớt. Các bội chi do tác động của cơ chính sách cơ cấu thu chi gọi là bội chi cơ cấu.
Trong điều kiện bình thường ( không có chiến tranh, không cóthiên tai lớn...), tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi ngân sách nhà nước.
3. Ảnh hưởng của bội chi ngân sách nhà nước tới nền kinh tế.
Bội chi ngân sách nhà nước là một căn bệnh tác hại đến sự phát triển kinh tế nếu xử lý bội chi ngân sách nhà nước không đúng đắn, cho dù bội chi ngân sách nhà nước từu nguyên nhân nào đi chăng nữa. Bội chi ngân sách nhà nước là căn bệnh không chỉ dành riêng cho bất kỳ quốc gia nào. Nó mang tính phổ biến tồn tại khắp các quốc gia trên thế giới, từ những nước đang phát triển , chậm phát triển cho đến những nước có nền kinh tế phát triển. Đó là nhu cầu chi tiêu và thực tế của nhà nước không thể cắt giảm được mà ngày càng tăng lên, trong khi đó việc tăng thu ngân sách nhà nước từ công cụ thuế sẽ dẫn đến sự phản hồi từ phía dân cư và các tổ chức kinh tế xã hội, và hậu quả nhận được là kìm hãm tốc độ tích lũy vốn cho sản xuất, hạn chế tiêu dùng dẫn đến nguy cơ suy thoái nền kinh tế cao. Còn đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là những nước nghèo thì bội chi ngân sách nhà nước là điều không thể tránh khỏi bởi tình trạng thu nhập bình quân đầu ngươi quá thấp không cho phép chính phủ tăng tỉ lệ động viên từ GDP vào ngân sách nhà nước, trong khi đó nhu cầu chi tiêu theo chức năng của chính phủ lại tăng lên, nhát là khi nhà nước thực hiện các chương trình đầu tư nhăm cải thiện cơ cấu kinhtế và hướng dẫn sự tăng trưởng.
Thực tế cho thấy, bội chi ngân sách nhà nước không có nguồn bù đắp hợp lý sẽ dẫn đến lạm phát, gây tác hại xấy tới nền kinh tế cũng như đời sống xã hội. Nếu bội chi ngân sách nhà nước được bù đắp bằng cách phát hành tiền thêm vào sẽ dẫn tới bù nổ lạm phát.
Bội chi ngân sách nhà nước cũng không hoàn toàn là tiêu cực. Nếu bội chi ngân sách ở một mức độ nhất đị nh (dưới 5% so với tổng chi ngân sách trong năm) thì lại có tác dụng kích thích sản xuất phát triển. Vì thế ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển, nguời ta vẫn chỉ cố gắng thu hẹp bội chi ngân sách nhà nước chứ không hề có ý loại trừ nó hoàn toàn. Nhưng cho dù bội chi ngân sách nhà nước ở mức độ nào đi chăng nữa thì nó vẫn đòi hỏi mọi chính phủ phải có biện pháo thích hợp để kiểm soát và kiềm chế bội chi ngân sách.
III. Thực trạng bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
Bảng thống kê bội chi ngân sách nhà nước 2007-2010(tỷđồng)

Chỉ tiêu
2007 2008 2009 2010
Tổng thu cân đối ngân sách 281900 32300 38900 46100
Thu kết chuyển từ năm trước sang 19000 9080 14100 1000
Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước 357400 398890 481300 582200
Bội chi ngân sách nhà nước 56500 66900 873090 119700
Tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước so với GDP 5% 5% 4,82% 6,2%

Theo như bảng trên thì thực tế trong những năm 2007-2010 chúng ta đã kiểm soát được bội chi ngân sách ở mức giới hạn phép duới 5% GDP/năm (trừ 2010) và nguồn vốn vay chủ yếu được chi cho đầu tư phát triển. Ngoài ra chúng ta cũng tích lũy được một phần từ nguồn thu thuế, phí, lệ phí để đầu tư phát triển. Đây cũng là những thành công bước đầu đáng ghi nhận trong công tác quản lý cân đối ngân sách nhà nước cung như kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước.


Dưới đây là các số liệu về cân đối dự toán ngân sách nhà nước trong những năm gần đây (từ năm 2007 đến 2010 )
Bảng cân đối dự toán ngân sách nhà nước năm 2007
Đơn vị: Tỷ đồng
STT Chỉ tiêu Dự toán
2007
A Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước 281.900
1 Thu nội địa không kể từ dầu thô 151.800
2 Thu từ dầu thô 71.700
3 Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 55.400
4 Thu viện trợ không hoàn lại 3.000
B Thu kết chuyển từ năm trước sang 19.000
C Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước 357.400
1 Chi đầu tư phát triển 99.450
2 Chi trả nợ và viện trợ 49.160
3 Chi sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh, quản lý hành chính nhà nước, đảng, đoàn thể 174.550
4 Chi thực hiện chính sách với lao động dôi dư 500
5 Chi cải cách tiền lương 24.600
6 Chi bổ sung dự trữ quỹ tài chính 100
7 Dự phòng 9.040
D Bội chi ngân sách nhà nước 56.500
Tỉ lệ bội chi so với GDP 5%
Nguồn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước
1 Vay trong nước 43.000
2 Vay nước ngoài 13.500
Dự toán thu ngân sách nhà nước quốc hội quyết định là 281900 tỉ đồng; phấn đấu cả năm ước đạt 287900 tỉ đổng, vượt 2,1% (6000 tỉ đồng). So với dự toán, tăng 11,6% so với thực hiện năm 2006. Trong điều kiện dự toán năm 2007 được xây dựng ở mức cao, quá trình điều hành phát sinh nhiều khó khăn ảnh hưởng trực tiếp đến số thu ngân sách như sản lượng dầu thô, thanh toán giảm lớn so với dự toán, thực hiện điều chỉnh giảm thuế để bình ổn giá cả thị trường… thì kết quả thu như vậy là tích cực. Dự toán chi quốc hội quyết định là 357400 tỉ đồng, bao gồm cả nhiệm vụ chi từ số thu kết chuyển năm 2006 sang năm 2007 (19000 tỉ đồng); ước cả năm đạt 368340 tỉ đồng, tăng 3,1% (10940 tỉ đồng) so với dự toán bằng 32,3% tăng 14,6% so với thực hiện năm 2006.
Bội chi ngân sách năm 2007 được quốc hội quyết định là 56500 tỉ đồng ước cả năm là 56500 tỉ đồng, chiếm 4,95% GDP (tính theo thống kê tài chính là 1,7% GDP bằng mức quốc hội quyết định, được đảm bảo bằng các nguồn vay bù đắp bội chi đúng với dự toán năm.)
Thực hiện nghị quyết của quốc hội trong chỉ đạo điều hành ngân sách nhà nước năm 2007 dự kiến sẽ dành 9080 tỉ đồng (ngân sách trung ương 7000 tỉ đồng, ngân sách địa phương 2080 tỉ đồng) kết chuyển sang năm 2008 để thực hiện cải cách tiền lương. Đến 31/12/2007 dư nợ chính phủ (bao gồm cả nợ trái phiếu chính phủ) bằng 35,9% GDP dư nợ nước ngoài của quốc gia bằng 30,4% GDP, trong giới hạn đảm bảo an ninh tài chính quốc gia và ổn định các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô.
Bảng cân đối dự toán ngân sách nhà nước năm 2008(tỷ đồng)
Stt
Chỉ tiêu Dự toán
2008
A Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước
323,000
1 Thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) 189,300
2 Thu dầu 65,600
3 Thu cân đối từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
64,500
4 Thu viện trợ không hoàn lại 3,600
B Thu kết chuyển từ năm trước sang
9,080
C Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước
398,980
1 Chi đầu tư phát triển
99,730
2 Chi trả nợ và viện trợ
51,200
3 Chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính nhà nước, đảng, đoàn thể
208,850
4 Chi cải cách tiền lương
28,400
6 Dự phòng 10,700
D Bội chi ngân sách nhà 66,900
Tỷ lệ bội chi so với GDP 5%
Nguồn bù đắp bội chi
1 Vay trong 51,900
2 Vay ngoài 15,000
Dự toán thu cân đối ngân sách nhà nước năm 2008 là 323000 tỉ đồng phấn đấu cả năm đạt 399000 tỉ đồng, vượt 23,5% (76000 tỉ đồng so với dự toán, tăng 26,3% so với thực hiện năm 2007, đạt tỉ lệ động viên 26,8% GDP, trong đó từ thuế và phí đạt 24,9% GDP, loại trừ yếu tố tăng thu do tăng giá dầu thô thì đạt tỉ lệ động viên 23,5% GDP (thuế và phí đạt 21,6% GDP) chính phủ tập trung chỉ đạo tăng cường công tác quản lý thu ngân sách năm 2008.
Dự toán chi cân đối ngân sách nhà nước quốc hội quyết định là 398900 tỉ đồng ước thực hiện cả năm đạt 474280 tỉ đồng vượt 18,9% so với dự toán, tăng 22,3% so với thực hiện năm 2007.
Bảng cân đối dự toán ngân sách nhà nước năm 2009(tỷ đồng)


STT Chỉ tiêu Dự toán
năm 2009
A Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước 389,900
1 Thu nội địa 233,000
2 Thu từ dầu thô 63,700
3 Thu cân đối từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu 88,200
4 Thu viện trợ không hoàn lại 5,000
B Thu kết chuyển từ năm trước sang 14,100
C Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước 491,300
1 Chi đầu tư phát triển 112,800
2 Chi trả nợ và viện trợ 58,800
3 Chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính 269,300
4 Chi cải cách tiền lương 36,600
5 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100
6 Dự phòng 13,700
D Bội chi ngân sách nhà nước 87,300
Tỷ lệ bội chi so GDP 4.82%
E Nguồn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước 87,300
1 Vay trong nước 71,300
2 Vay ngoài nước 16,000

Bảng cân đối dự toán ngân sách nhà nước năm 2010(tỷ đồng)
STT Chỉ tiêu Dự toán
năm 2010
A Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước 461,500
1 Thu nội địa 294,700
2 Thu từ dầu thô 66,300
3 Thu từ xuất khẩu, nhập khẩu 95,500
4 Thu viện trợ không hoàn lại 5,000
B Thu kết chuyển từ năm trước sang 1,000
C Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước 582,200
1 Chi đầu tư phát triển 125,500
2 Chi trả nợ và viện trợ 70,250
3 Chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính 335,560
4 Chi cải cách tiền lương 35,490
5 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100
6 Dự phòng 15,300
D Bội chi ngân sách nhà nước 119,700
Tỷ lệ bội chi so GDP 6.20%
E Nguồn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước 119,700
1 Vay trong nước 98,700
2 Vay ngoài nước 21,000
Theo thống kê thì bội chi ngân sách nhà nước năm 2008 Quốc hội quyết định là 66900 tỉ đồng. Ước cả năm bộ chi ngân sách thực hiện là 66200 tỉ đồng bằng 4,95% GDP khi xây dựng kiểm toán. Đến ngày 31/12/2008 dư nợ chính phủ (bao gồm cả nợ trái phiếu chính phủ) bằng 33,5% GDP dư nợ ngoài nước của quốc gia bằng 27,2% GDP trong giới hạn đảm bảo an ninh tài chính quốc gia và ổn định các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô.
Công tác tài chính ngân sách năm 2008 còn những khó khăn tồn tại.
Thu ngân sách tăng nhưng chưa vững chắc chủ yếu là do giá dầu thô và thuế xuất nhập khẩu.Thu ngân sách những tháng cuối năm có chiều hướng giảm do sản xuất kinh doanh gặp khó khăn
Các bộ, ngành địa phương đã bám sát điều hành dự toán ngân sách nhà nước được giao nhưng triển khai vốn đầu tư xây dựng cơ bản cả từ nguồn ngân sách nhà nước và nguồn trái phiếu chính phủ còn chậm
Quản lý chi tiêu ngân sách đã được tăng cường nhưng vẫn còn tình trạng lãng phí, kém hiệu quả, một số nơi chưa thật sự quán triệt để tiết kiệm chi ngân sách nhà nước.
Bảng cân đối dự toán ngân sách nhà nước năm 2009
Dự toán thu ngân sách nhà nước: dự toán tổng thu cân đối ngân sách nhà nước năm 2009 là 389900 tỉ đồng, đạt tỷ lệ động viên 23%GDP trong đó từ thuế phí và lệ phí là 21,5% GDP là mức động viên ích cực .
Về cơ cấu thu năm 2009 dự toán thu nội địa chiếm 59,8% tổng thu ngân sách nhà nước ,thu dầu thô chiếm 16,3%, thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu chiếm 22,6% tông thu cân đối ngân sách nhà nước
Dự toán chi ngân sách nhà nước năm 2009 được xây dựng trên cơ sở cơ cấu lại chi ngân sách mục tiêu góp phần kiềm chế lạm phát ổn định vĩ mô, đảm bảo các nguyên tắc :
- Tiếp tục cơ cấu lại ngân sách, đảm bảo kinh phí thực hiện các chính sách an sinh xã hội và điêu chỉnh tiền lương, các khoản tăng chi theo tiền lương
- Bố trí tăng chi dự phòng, dự trữ quốc gia để đảm bảo an ninh lương thực và chủ động phòng chống khắc phục hậu quả thiên tai dịch bệnh, bố trí đảm bảo chi trả nợ theo đúng cam kết
- Bố trí kinh phí cho các lĩnh vực giáo dục - đào tạo - dạy nghề y tế ,khoa học - công nghệ, văn hoá thông tin, bảo vệ môi trường, nông nghiệp nông thôn…theo nghị quyết của Đảng, quốc hội
- Đáp ứng nhu cầu chi cho các nhiệm vụ khác trên tinh thần triệt để tiết kiệm, tiếp tục rà soát thắt chặt chi xây dựng ,bố trí dự toán chi thường xuyên cho các bộ các cơ quan trung ương và các địa phương cơ bản không tăng so với năm 2008, giảm mức bội chi ngân sách nhà nước dưới 5%GDP
Dự toán chi ngân sách năm 2009 là 491300 tỉ đồng ,tăng 23,1% so với dự toán năm 2008: số tăng chi này tập trung cho các nhiệm vụ chính
Về chi ngân sách nhà nước đã bố trí theo hướng cơ cấu lại các khoản chi tập trung chi cho an sinh xã hội, đầu tư phát triển con người thông qua giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, đồng thời thực hiện điều chỉnh tiền lương ở mức cao hơn so với lộ trình đã được duyệt
Được xây dựng trong bối cảnh cơ sở dự báo tình hình kinh tế vãn còn khó khăn, diễn biến thất thường của thị trường và các biện pháp kiềm chế lạm phát vẫn tiếp tục thực hiện, việc điều chỉnh chính sách thuế tạo thuận lợi hơn cho sản xuất kinh doanh nhưng bước đầu làm giảm thu ngân sách nhà nước
Về cân đối ngân sách nhà nước
Bội chi ngân sách nhà nước ở mức 4,82 % GDP (giảm 3700 tỉ đồng so với tính bội chi ở mức 5%) để góp phần kiềm chế lạm phát
Dự toán ngân sách Nhà nước năm 2010 tại phiên họp sáng nay 11/11 Quốc hội cũng đã thông qua toàn bộ Nghị quyết với tổng số thu cân đối ngân sách Nhà nước là 461.500 tỷ đồng, bằng 23,9% GDP; tính cả 1.000 tỷ đồng thu chuyển nguồn năm 2009 sang năm 2010 thì tổng số thu cân đối ngân sách Nhà nước là 462.500 tỷ đồng .

Tổng số chi cân đối ngân sách Nhà nước là 582.200 tỷ đồng; mức bội chi ngân sách nhà Nước là 119.700 tỷ đồng, bằng 6,2% GDP
• Những vấn đề cần có giải pháp khắc phục trong tổ chức thực hiện:
Về thu ngân sách nhà nước: dự toán xây dựng vẫn còn chứa đựng các yếu tố rủi ro, chưa lường hết, trong đó: thu nội địa từ hoạt động xuất nhập khẩu phụ thuộc nhiều vào khả năng kiểm soát lạm phát, bình ổn kinh tế vĩ mô và phát triển sản xuất kinh doanh, thu dầu thô phụ thuộc vào yếu tố sản lượng và đặc biệt là yếu tố giá đang có biến động khó lường.
Dự toán chi ngân sách nhà nước đã thực hiện cơ cấu lại để tăng cường an sinh xã hội, nhưng vẫn còn khó khăn: dự toán chi đầu tư phát triển NSTW bố trí tăng 10.1 % so với dự toán năm 2008, nhưng vẫn còn thấp so với nhu cầu, đòi hỏi phải rà soát, lựa chọn công trình, dự án quan trọng để triển khai thực hiện. đồng thời phải tăng cường huy động nguồn lực đầu vào tư từ các thành phần kinh tế khác để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế
- Một số nhu cầu chi chưa có khả năng bố trí đủ theo yêu cầu, như chi bù chênh lệch lãi suất tín dụng ưu đãi, chi thu hồi vốn ứng theo kế hoạch…trong quá trình điều hành, trường hợp có tăng thêm thu NSTW sẽ bổ sung nguồn xử lý
- Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, đã bố trí giảm bội chi ngân sách nhà nước, nhưng mức giảm chưa nhiều do nhu cầu an sinh xã hội và đầu tư phát triển còn lớn. Nếu giảm tiếp mức bội chi ngân sách thì sẽ phải giảm chi đầu tư phát triển, hiện đang rất khó khăn.
- Dự toán chi thường xuyên bố trí cho cac bộ ,cơ quan trung ương ,các địa phương ngoài các khoản tăng chi theo chính sách,chế độ và nhiệm vụ mới phát sinh, các khoản chi còn lại không tăng so với dự toán năm 2008 trong khi giá cả tăng là khó khăn lớn, đòi hỏi các bộ, cơ quan trung ương phải tiếp tục thực hiện triệt để các biện pháp sử dụng hiệu quả kinh phí và tiết kiệm chi
Dự phòng ngân sách nhà nước bố trí đạt 2,8% tổng chi ngân sách nhà nước, trong đó dự phòng NSĐP bằng 3,5% đảm bảo dự phòng của địa phương ở mức 3-4%, dự phòng NSTW 2,4% tổng chi NSTW, mức bố trí này là rất mỏng so với yêu cầu chủ động phòng chống thiên tai dịch bệnh và xử lý các nhiệm vụ đột xuất khác phát sinh trong năm .
IV. Đề xuất giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước.
Xử lý bội chi ngân sách nhà nước là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt tới nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang có những biến động lớn như: giá dầu tăng cao, khủng hoảng tài chính tại Mỹ, tình trạng lạm phát diễn ra nhiều nước trên thế giới,vấn đề kiềm chế lạm phát đặt ra vô cùng cấp bách không chỉ ở Việt Nam.Vậy xử lý bội chi ngân sách như thế nào để ổn định vĩ mô, thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế -xã hội, tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát hiện nay?
Vấn đề thiếu hụt ngân sách thường làm các nhà chính trị gia đau đầu giữa một bên là phát triển bền vững, duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế với một bên là nguồn lực có hạn. Đòi hỏi các chính trị gia phải lựa chọn để phù hợp với yêu cầu phát triển thực tế và sự phát triển trong tương lai.Từ sự lựa chọn đó họ đưa ra mức bội chi hợp lý, bảo đảm nhu cầu tài trợ cho tiêu cũng như đầu tư phát triển kinh tế, đồng thời bảo đảm cho nợ quốc gia ở mức hợp lý. Bội chi ngân sách nhà nước được hiểu một cách chung nhất là là sự vượt trội về chi tiêu so với tiền thu được trong năm tài khóa hoặc thâm hụt ngân sách do sự cố ý của chính phủ tạo ra nhằm thực hiên chính sách kinh tế vĩ mô. Có nhiều cách để chính phủ bù đắp thiếu hụt ngân sách như tăng thu từ thuế, phí, lệ phí ; giảm chi ngân sách; vay nợ trong nước ,vay nợ nước ngoài ;phát hành thêm tiền để phù đắp chi tiêu ;…Sử dụng phương pháp nào ,nguồn nào tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia .
Bội chi ngân sách tác động đến nền kinh tế vĩ mô phụ thuộc nhiều vào các giải pháp nhằm bù đắp bội chi ngân sách. Mỗi giải pháp bù đắp đều làm ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô.và đây là một số giải pháp cơ bản mà chính phủ Việt Nam sử dụng để kiềm chế bội chi ngân sách hiện nay .
1. Tăng thu giảm chi
Đây là biện pháp cơ bản nhất mà chính phủ thương dùng để giảm hộ chi ngân sách .Bằng quyền lực và nghĩa vụ của mình chính phủ tính toán để tăng các khoản thu và cắt giảm chi tiêu .
Tăng thu và giảm chi là biện pháp cổ tryền nhưng không phải bao giờ cũng thực hiện thành công được bởi vì ở đây xả ra hai nghịch lí khó giải quyết. Một là: trong bối cảnh tỉ lệ tăng trưởng GDP chưa lớn sẽ ảnh hưởng đến khả năng đầu tư vào tiêu dùng ở khu vực tư nhân bị hạn chế ,tức giảm động lực phát triển kinh tế. Hai là: khả năng giảm chi cũng có giới hạn nhất định, nếu giảm chi vượt quá giới hạn thì cũng ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển xã hội
Chính vì thế vấn đề đặt ra là chính phủ phải tính toán phí tăng thu và giảm chi như thế nào để gây ảnh hưởng ít nhất đến tăng trưởng kinh tế.
• Tăng thu.
Công tác thu ngân sách nhà nước phải đảm bảo mức động viên vào ngân sách nhà nước hợp lý tăng nhanh tỉ trọng nội địa trong tổng thu ngân sách nhà nước tập trung thực hiện thu đúng,đủ ,kịp thời theo các luật thuế nhằm động viên hợp lý, khuyến khích sản cuất kinh doanh phát triển và đảm bảo nguồn lực thực hiện nhiệm vụ quan trọng phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện hội nhập quốc tế chủ động ứng phó với cấc tác động của thị trường giá cả trong và ngoài nước, đồng thời đẩy mạnh thực hiện cải các thủ tục hành chính, hải quan và mổ rộng cơ chế tự khai tự nộp tăng trách nhiệm người nộp thuế và cơ quan thu, tăng cường kiểm tra chống thất thu, nợ đọng tạo môi trường thuận lợi bình đẳng trong mọi doanh nghiệp của các thành phần kinh tế .Có cơ chế khuyến khích các cấp tăng thu được hưởng hợp lý kết quả tăng thu so với nhiệm vụ nhà nước giao theo quy định pháp luật. Hiện nay tình trạng nợ đọng thuế chưa được kiểm soát chặt chẽ.Vì vậy chính phủ cần phải có giải pháp kiên quyết hơn trong việc kiểm soát nguồn thu từ thuế ,có biện pháp kiểm soát hiệu quả thì sẽ góp phần tăng thu ngân sách nhà nước như: Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục để nâng cao hiểu biết và tự giác thực hiện nghĩ vụ thuế;đẩy mạnh kiểm tra ,thanh tra phát hiện và xủ lý kịp thời các trường hợp kê khai không đúng, không đủ số thuế phải nộp để tăng thu tiền thuế cho ngân sách nhà nước
Chính phủ cũng cần phải caỉ thiện các nguồn thu ngân sách này tránh tình trạng ngân sách phụ thuộc quá nhiều (tới hơn 40% vào các nguồn thu không bền vững từ dầu mỏ và thuế nhập khẩu như hiện nay). Cải cách thuế đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân (hiện chiếm 2% ngân sách nhà nước của Việt Nam, trong khi con số này ở các nền kinh tế hiện đại đều lớn hơn 20%) và thuế bất động sản. Áp dụng thuế bất động sản đúng đắn là một cách đảm bảo sự bền vững trong ngân sách nhà nước, đồng thời giúp nhà nước thực hiện được các chương trình đầu tư cơ sở hạ tầng vì quốc tế nhân sinh.
Chính phủ điều chỉnh tăng mức thuế xuất, thuế nhập bằng trần tối đa theo cam kết trong WTO của năm 2008 đối với các hàng hóa tiêu dùng không khuyến khích nhập khẩu ( ô tô nguyên chiếc, linh kiện và phụ tùng mô tô, một số mặt hàng điện tử điện lạnh…) ; điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu đối với một số nhóm mặt hang thiết thực phục vụ sản xuất (một số mặt hang sản xuất thức ăn chăn nuôi, giấy in báo…) để góp phần bình ổn giá điều chỉnh tăng thuế xuất khẩu đối với hang hóa là tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản (dầu thô,than đá, quặng kim loại…) điều chỉnh tăng lệ phí trước bạ đối với ô tô con nguyên chiếc dưới 10 chỗ ngồi; thực hiện biện pháp kéo dài, giãn thời hạn nộp thuế và giảm thuế đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh, hoạt động chế biến và xuất khẩu, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vượt qua khó khăn do giá đầu vào tăng cao, duy trì và tăng sản xuất xuất khẩu.
• Giảm chi.
Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công và chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước. Đây là một giải pháp tuy mang tính tình thế ,nhưng vô cùng quan trọng với mỗi quốc gia khi xảy ra bội chi ngân sách và xuất hiện lạm phát. Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công có nghĩa là chi đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển kinh tế _xã hội ,đặc biệt những dự án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm ,thậm chí không đầu tư .Mặt khác bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản thu đầu tư công, những khoản chi thường xuyên của nhưng cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết
Một trong những giải pháp quan trọng được quốc hội thông qua là cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng ưu tiên cho an sinh xã hội; tăng chi có trọng điểm cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và những vùng khó khăn, nhất là 61 huyện có tỉ lệ nghèo cao.
Quốc hội quyết định: cần rà soát kỹ nguồn vốn nhà nước bố trí cho các dự án, công trình thuộc trách nhiệm đầu tư của ngân sách nhà nước sao cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước thực hiện. Không bố trí vốn ngân sách nhà nước cho các dự án công trình không thuộc lĩnh vực ngân sách nhà nước đầu tư.
Chính phủ việt nam vì được đặt trong bối cảnh chống lạm phát nên chính sách tài khóa của chính phủ trong thời gian vừa qua chỉ hướng đến mục đích giảm chi tiêu công (gồm đầu tư công và chi thường xuyên) và qua đó giảm tổng cầu .Cụ thể chính phủ chỉ định:
- Cắt giảm nguồn đầu tư từ ngân sách và tín dụng nhà nước
- Rà soát và cắt bỏ các hạng mục đầu tư kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước
- Cắt giảm chi thường xuyên của bộ máy nhà nước các cấp
Tổng đầu tư nhà nước (từ ngân sách ,tín dụng nhà nước thông qua doanh nghiệp nhà nước ) luôn chiếm trên 50% tổng đầu tư của toàn xã hội.Vì vậy không nghi ngờ gì, nếu nhà nước có thể cắt giảm một số hạng mục đầu tư kém hiệu quả và có thứ tự ưu tiên thấp thì sức ép gia tăng lạm phát chắc chắn sẽ nhẹ đi .Cũng tương tự vậy, lạm phát cũng sẽ được kiềm chế bớt nếu các cơ quan nhà nước có thể cắt giảm chi tiêu thường xuyên (chiếm 56% tổng chi ngân sách năm 2007)
Mặc dù việc cắt giảm chi tiêu là hoàn toàn đúng đắn, song hiệu lực của những biện pháp cụ thể đến đâu còn chưa chắc chắn vì ít nhất có 4 lý do :
- Thứ nhất, việc cắt giảm ,thậm chí giãn tiến độ đầu tư công không hề dễ dàng , nhất là khi những dự án này đã được các cơ quan lập các cấp quyết định ,dã dược đưa vào quy định của các bộ ,ngành địa phương ,đã được triển khai , và nhất là khi chúng gắn với lợi ích thiết thân của những cơ quan liên quan đến dự án
- Thứ hai :nhà nước hầu như không thể kiểm soát các khoản đầu tư của các DNNN một mặt là do chính sách phân cấp trong quản lý đầu tư, và mặt khác là do một số tập đoàn lớn đã tự thành lập ngân hàng riêng
- Thứ ba : Với tốc độ lạm phát nhanh như hiện nay thì chỉ cần giữ được tổng ức đầu tư công theo đúng dự toán cũng được coi là một thành tích đáng kể
- Thứ tư : kinh nghiệm quốc tế cho thấy rằng việc giảmchi thường xuyên rất khó khăn nên đây là hạng mục cuối cùng nằm trong danh sách cắt giảm . Hơn thế với thực tế ở việt nam thì phạm vi chi thường xuyên có thể cắt giảm không nhiều . Đầu tiên là phải trừ đi quỹ lương ( chiếm khoảng 2/3 tổng chi thường xuyên ),sau đó trừ đi các khoản phụ cấp có tính chất lương ,chi chính sách chế độ ,tiền đóng niêm liễn cho các tổ chức quốc te, các khoản chi thường xuyên đã được thực hiện …
Theo ước lượng của bộ kế hoạch và đầu tư thì nếu làm thật quyết liệt thì sẽ giảm được khoảng 3000 tỷ đồng chi hội họp và mua sắm xe ,tức giảm được khoảng 0,8 tổng chi ngân sách nhà nước .
2. Vay nợ
a, Vay nợ trong nước
Sự thiếu hụt ngân sách do nhu cầu vốn tài trợ cho sự phát triển nền kinh tế quá lớn đòi hỏi phải đi vay để bù đắp. Điều này được thể hiện qua việc chúng ta chỉ vay để đầu tư phat triển kết cấu ha tầng và các công trình trọng điểm quốc gia phục vụ lợi ích phát triển đất nước. Nhưng trên thực tế số tiền vay, đặc biệt của nước ngoài chưa được quản lý chặt chẽ .Tình trạng đầu tư dân trải ở các địa phương vẫn chưa đươc khắc phục triệt để tiến độ thi công nhưng dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả .Chính vì vậy các khoản đầu tư phát triển lấy từ nguồn vốn nay cả trong và ngoài nước cần đảm bảo các quy định của ngân sách nhà nước và mức bội chi cho phép hằng năm do quốc hội quyết định
Tập trung các khoản vay do trung ương đảm nhận các nhu cầu đầu tư của địa phương cần được xem xét và thực hiện bổ xung từ ngân sách cấp trên thực hiện như vậy, tránh được đầu tư tràn lan kém hiệu quả và để tồn ngân sách quá lớn quản lý chặt chẽ số bội chi ngân sách nhà nước. Hiên tại chúng ta đang đứng trước mâu thuẫn giữa nhu cầu vốn cho vay đầu tư với nguồn nhân lực hạn hẹp . Nếu thực hiện thắt chặt, hạn chế vay để đầu tư sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế đang có nhu cầu vay vốn rất cao. Nhưng nếu chung ta không kiểm soát chặt chẽ các khoản vay của ngân sách nhà nước, nhất là vay vốn của ngân sách địa phương thi nguy cơ ảnh hưởng tới nên an ninh tài chính quốc gia, sự bền vững của ngan sách nhà nước.Thực hiên đầu tư tập trung cũng có lợi là bảo đảm phát triển hài hòa cân đối giưa các vùng miền trong toàn quốc . khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ kien quyết không bố trí nguồn chi thường xuyên cho việc vận hành các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu ,bả dưỡng các công trình, làm giảm hiệu quả đầu tư. Có như vậy các địa phương phải tự cân đói nguồn kinh phí này chứ không thể yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách nhà nước
Vay trong nước được chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành công trái, trái phiếu .Công trái, trái phiếu là những chứng chỉ ghi nhận nợ của nhà nước, là một loại chứng khoán hay trái khoán do nhà nước phát hành để vay các dân cư ,các tổ chức kinh tế xã hội vầccs ngân hàng. Ở việt nam chính phủ thường ủy nhiệm cho kho bạc nhà nước phát hành trái phiếu dưới các hình thức tín phiếu kho bạc và trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình.
Năm Số tiền vay trong nước (tỷ đồng)
2007 43000
2006 36000
2005 32420
2004 27450
2003 22895
2002 18382


Ưu điểm: Đây là biện pháp cho phép chính phủ có thể giảm bội chi ngân sách mà không cần phải tăng cơ sở tiền tệ hoặc giảm dư trữ quốc tê . Vì vậy, biện pháp này được coi là một cách hiệu quả để kiềm chế lạm phát
Nhược điểm: viêc khắc phục bội chi ngân sách bằng nợ tuy không gây ra lạm phát trước mắt nhưng nó lại có thể làm tăng áp lực lạm phát trong tương lai nếu như tỷ lệ nợ trong GDP liên tục tăng. Thứ nữa, việc vay từ dân trực tiếp sẽ làm giảm khả năng khu vực tư nhân trong việc tiếp cận tín dụng và gây sức ép làm tăng lãi suất trong nước
Đặc biệt, ở những nước trải qua giai đoạn lạm phat cao (như nước ta hiện nay), giá trị thực của trái phiếu chính phủ giảm nhanh chóng ,làm cho chúng trở nên ít hấp dẫn.Chính phủ có thể sử dụng quyền lực của mình để buộc các chủ thể khác trong nền kinh tế phải giữ trái phiếu.Tuy nhiên, nếu việc làm này kéo dài sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của chính phủ và khiến cho việc huy động vốn thông qua kênh này sẽ trở nên khó khăn hơn vào các năm sau .
Một số điểm đã đạt được ,đối với vay nợ trong nước: hàng năm ngân hàng phải huy động một khoản tiền nhàn rỗi trong nước tương đối lớn để bù đắp bội chi ngân sách. Để việc huy động vốn không ảnh hưởng lớn đến thị trường tiền tệ, đến lãi suất, Bộ tài chính thực hiện chính sách trước hết thực hiện vay vốn nhàn rỗi từ các quỹ tài chính nhà nước như : quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ tích lũy trả nợ ..phần còn thiếu sẽ thực hiện phát hành trái phiếu và tín phiếu chính phủ .Đối với tín phiếu (loại thời hạn1năm), thực hiện phối hợp với ngân hàng nhà nước đấu thầu (đấu thầu về lãi suất ) qua ngân hàng nhà nước, đây là biện pháp vừa để đảm bảo nguồn bù đắp bội chi cho ngân sách nhà nước ,đồng thời cũng tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng có nguồn vốn nhàn rỗi, chưa cho vay được thực hiện mua trái phiếu này (kết quả cho thấy trong năm qua nhiều tổ chức tín dụng đã mua tín phiếu kho bạc )
b, Vay nợ nước ngoài
Chính phủ có thể giảm bội chi ngân sách bằng các nguồn vốn nước ngoài thông qua việc nhận viện trợ nước ngoài hoặc vay nợ nước ngoài từ các chính phủ nước nước ngoài ,các định chế tài chính thế giới như ngân hàng thế giới(WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), các tổ chức liên chính phủ, tổ chức quốc tế …
Viện trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ ,các tổ chức nhằm thực hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốn phát triển chính thức ODA
Vay nợ nước ngoài có thể thực hiện dướicác hình thức hát hành trái phiếu bằng ngoại tệ mạnh ra nước ngoài,vay bằng hình thức tín dụng …
Năm Số tiền vay nước ngoài (tỷ đồng)
2007 13500
2006 12500
2005 8326
2004 7253
2003 7041
2002 7125

Ưu điểm: Nó là một biện pháp giảm bội chi ngân sách hữu hiệu ,có thể bù đắp được các khoản bội chi mà lại không gây sức ép lạm pháp cho nền kinh tế .Đây cũng là một nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn thiếu hụt trong nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội
Nhược điểm: Nó sẽ khiến chi gánh nặng nợ nần, nghĩa vụ trả nợ tăng lên, giảm khả năng chi tiêu cho chính phủ. Đông thời ,nó cũng dễ khiến cho nền kinh tế trở nên bị phụ thuộc vào nước ngoài.Thậm chí ,nhiều khoản vay,khoản viện trợ còn đòi hỏi kèm theo đó là nhiều các điều khoản về chính trị, quân sự, kinh tế khiến cho các nước đi vay bị phụ thuộc nhiều .
Một số điểm đã đạt được, đối với vay nợ nước ngoài ,thực hiện chính sách chỉ vay ưu đãi nước ngoài, không vay thương mại nước ngoài cho đàu tư phát triển .Đối với những khoản vay thương mại nước ngoài và nợ quá hạn trước đây đã được xử lý qua câu lạc bộ Pari và câu lạc bộ luân đôn. Thực hiện xử lý nợ với Nga, Angiêri…Nhờ thực hiện tốt quá trình cơ cấu lại nợ ,cũng như chính sách vay mới mà dư nợ Chính phủ hiện nay ở mức 35% GDP vào năm 2005, mức an toàn, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia .

3.Vay nợ ngân hàng (in tiền): Chính phủ khi bị thâm hụt ngân hàng sẽ đi vay ngân hàng trung ương để bù đắp .đáp ứng nhu cầu này ,tất nhiên ,ngân hàng trung ương sẽ tăng việc in tiền .Điều này sẽ tạo ra thêm cơ sở tiền tệ .Chính vì vậy ,nó được gọi là tiền tệ hóa thâm hụt
Ưu điểm: của biện pháp này là nhu cầu tiền để bù đắp ngân sách nhà nước được dáp ứng một cá nhanh chóng, không phải trả lãi, không phải gánh thêm các gánh nặng nợ nần
Nhược điểm: của biện pháp này là lại lớn hơn rất nhiều lần .Việc in thêm và phát hành thêm tiền sẽ khiến cho cung tiền vượt cầu tiền. nó đẩy cho việc lạm phát trở nên không thể kiểm soát nổi.Viêt nam từ năm1988 trở về trước bội chi ngân sách được nhà nước bù đắp chủ yếu bằng cách phát hành thêm tiền vào lưu thông dẫn đến tốc độ lạm phát rất cao, năm 1986 là 774,7%, năm 1987 là 223,1%, 1988 là 393,8%; nhưng từ năm1991 mặc dù bội chi ngân sách còn ở mức lớn, độ bù đắp bằng các biện pháp tích cực khác nên lạm phát đã giảm nhanh và đã được kiểm soát ở mức một con số cho đến nay. Chính vì những hậu quả đó, biện pháp này rất ít khi được sử dụng. Và từ năm 1992 nước ta đã chấm dứt hoàn toàn việc in tiền để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước
4.Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước
Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước nhằm bình ổn giá cả, ổn định chính sách kinh tế vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế. Để thực hiện vai trò của mình, nhà nước sư dụng một hệ thống chính sách và công cụ quản lý vĩ mô để điều khiển, tác động vào đời sống kinh tế -xã hội, nhằm giải quyêt các mối quan hệ trong nền kinh tế cũng như đời sống xã hội, nhất là mối quan hệ tăng trưởng và công bằng xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với giữ gìn mội trường v.v…Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi lạm phát là một vấn nạn của các nước trên thế giới, vấn đề tăng cường vai trò quản lý của các nước trên thế giới, vấn đề tăng cường vai trò vai trò quản lý của nhà nước đối với quản lý ngân sách nhà nước nói chung và xử lý bội chi ngân sách nói riêng có ý nghĩa vô cùng cấp thiết.
V. Tổng kết
Như vậy là có nhiều cách để chính phủ bù đắp bội chi ngân sách nhà nước, nhưng phải sử dụng cách nào, nguồn nào thì còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế, chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia, bởi mỗi giải pháp bù bắp đều có những ưu nhược điểm làm ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô. Và hậu quả của bội chi ngân sách nhà nước là ảnh hưởng nghiêm trọng tới kinh tế xã hội của đất nước dù mức nào đi chăng nữa. Vì vậy, chính phủ Việt Nam cần phải tính toán kỹ lưỡng để đưa ra các giải pháp bù đắp phù hợp với thực trạng hiện nay, khi nền kinh tế của Việt Nam đang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, nền tài chính quốc gia cũng được đổi mới .