PGS,TS Vũ Đình Hòe "Tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến sự phát triển nền nông nghiệp của Việt Nam hiện nay"

BÁO CÁO ĐỀ DẪN TẠI HỘI THẢO
TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY
PGS,TS Vũ Đình Hòe, Phó Giám đốc Học viện
Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

- Thưa các vị đai biểu!
- Thưa các nhà khoa học và toàn thể các đồng chí !
Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, đất nước ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Trong lĩnh vực đối ngoại, chúng ta đã chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Cho đến nay, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế thương mại với hơn 250 quốc gia và vùng lãnh thổ, tham gia các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới và tháng 12 năm 2006 Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Có thể khẳng định rằng, chủ trương chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta là đúng đắn, đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Song bên cạnh đó vẫn còn những tác động không thuận chiều về nhiều mặt cho đất nước, trong đó có lĩnh vực rất quan trọng là nông nghiệp và vấn đề này rất cần được nghiên cứu tổng kết. Vì lẽ đó, hôm nay Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “ Tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến sự phát triển nông nghiệp Việt Nam hiện nay” nhằm đánh giá những tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát triển nông nghiệp nước ta hiện nay, cả về mặt tích cực và mặt tiêu cực, phân tích và dự báo các nguy cơ, thách thức trước mắt cũng như lâu dài và góp phần đề xuất các giải pháp chủ yếu để nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế của nền nông nghiệp Việt Nam.
Thay mặt Ban Giám đốc Học viện và Ban Tổ chức hội thảo, tôi nhiệt liệt chúc mừng sự có mặt của các vị đại biểu, các nhà khoa học tại Hội thảo này. Chúc các đồng chí mạnh khoẻ, hạnh phúc và Hội thảo của chúng ta thành công.
Thưa các đồng chí!
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngoài việc tạo ra những tác động có lợi đối với sự phát triển nông nghiệp nước ta nó còn tạo ra những tác động không thuận lợi, tạo ra những thách thức không những cho nền kinh tế đất nước nói chung, mà còn cho nền nông nghiệp nói riêng. Khái quát lại, có thể nêu lên mấy điểm chủ yếu sau:
1. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần quan trọng vào sự phát triển nông nghiệp Việt Nam.
Sau hơn 20 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp nông dân, nông thôn đã đạt được những thành tựu khá toàn diện và to lớn. Nông nghiệp tiếp tục có tốc độ tăng trưởng khá cao theo hướng sản xuất hàng hóa, năng suất chất lượng, hiệu quả, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị trí cao trên thị trường quốc tế. Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, đời sống nông dân được cải thiện theo hướng tích cực…
Chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn của Đảng, Nhà nước ta đã có những thay đổi rất cơ bản theo hướng phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Thị trường trong nước được tự do lưu thông gắn với thị trường thế giới, mọi hình thức ngăn sông cấm chợ bị lên án và xoá bỏ, nhà nước tạo điều kiện, môi trường thuận lợi và bảo đảm cho mọi chủ thể sản xuất kinh doanh ở cả thành thị và nông thôn làm ăn hợp pháp. Đồng thời, Nhà nước tập trung mạnh vào chống buôn lậu, gian lận thương mại, phát triển thông tin thị trường, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xây dựng kết cấu hạ tầng… Nhờ vậy, không chỉ thị trường trong nước ngày càng phát triển mà nhiều loại hàng nông sản Việt Nam đã vươn ra chiếm lĩnh và có vị trí quan trọng trên thị trường quốc tế.
Dân cư nông thôn Việt Nam hiện chiếm 73,7% số dân cả nước và khoảng 67% số lao động nông nghiệp với hơn 12 triệu hộ nông nghiệp, nông nghiệp chiếm 20% GDP của cả nước là một nguồn lực hết sức to lớn đối với phát triển đất nước trong thời kỳ hiện nay.
Nông dân là lực lượng to lớn, nhưng đời sống còn gặp nhiều khó khăn, nếu không phát triển nông nghiệp, nông thôn thì không thể phát triển kinh tế bền vững như lời cha ông ta đã nói là “phi nông bất ổn”.
Việc gia nhập tổ chức thương mại WTO (2006) và Việt Nam trở thành thành viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc (2007) đã tạo ra những cơ hội cho sự phát triển của đất nước nói chung và cho nông nghiệp nói riêng:
- Sau khi gia nhập WTO, nền nông nghiệp Việt Nam được đẩy mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa. Nhiều sản phẩm của Việt Nam vì vậy có mặt ngày càng nhiều trên thị trường quốc tế góp phần tăng thu ngoại tệ để nhập khẩu tư liệu sản xuất cho nông nghiệp, tái đầu tư cho nông nghiệp, nâng cao đời sống nông dân. Đồng thời, góp phần tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nông nghiệp và các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.
- Hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo cho nông nghiệp Việt nam có điều kiện cải thiện quan hệ kinh tế quốc tế, đặc biệt là giải quyết tranh chấp thương mại, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của các sản phẩm nông nghiệp nói riêng và ngành nông nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế. Từ đây, nhiều sản phẩm mang madein Việt Nam đã có mặt trên thị trường quốc tế: cá tra, ba sa, nước mắm , thanh long , Bưởi, cà phê.
- Hội nhập kinh tế quốc tế đã có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngay trong nội bộ ngành nông nghiệp, giảm tỷ trọng nông nghiệp thuần túy, ngay trong nông nghiệp theo nghĩa hẹp, giảm tỷ trọng trồng trọt, tăng dần tỷ trọng chăn nuôi. Đặc biệt là đã hình thành những vùng chuyên canh, sản xuất hàng hóa lớn, tập trung, tạo điều kiện để đưa nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, phát triển công nghiệp chế biến.
Những thành tựu nổi bật trên là do tác động của nhiều nhân tố như thị trường nông sản biến động có lợi cho xuất khẩu (thời tiết, đồng USD giảm giá…) nhưng phần nào cũng thể hiện khả năng tranh thủ cơ hội khi Việt Nam đã ra hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
2. Hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, ngành nông nghiệp Việt Nam cũng đang đứng trước những thách thức trước mắt cũng như lâu dài đó là:
- Điều kiện tự nhiên đất chật, người đông, ruộng đất manh mún nhỏ lẻ, lao động thủ công là chủ yếu. Năng suất thấp, tỷ lệ người lao động được đào tạo chưa cao, đặc biệt là khả năng chủ động dự báo, phòng chống giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh còn yếu và tiếp tục gặp rất nhiều khó khăn. Điều đó thể hiện rõ rệt qua mức độ tàn phá của lũ quét tại các tỉnh miền núi phía Bắc vào tháng 7 vừa qua và dịch cúm gia cầm, lợn tai xanh… xảy ra trên diện rộng cũng là những thách thức mà chúng ta cũng phải tính đến.
- Sản xuất nông nghiệp , đã chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại nhưng cơ bản vẫn là “sản xuất những gì ta có”, đậm nét từ khả năng hơn là tín hiệu từ thị trường. Nền nông nghiệp Việt Nam cơ bản vẫn chưa thoát khỏi tình trạng quy mô nhỏ, sản xuất lạc hậu. Mức đầu tư cho phát triển nông nghiệp còn thấp. Tỷ lệ đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn rất nhỏ, chỉ chiếm 15% đầu tư trong nước và khoảng 7% đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chính trong công nghiệp chế biến, xuất nhập khẩu nông sản, vật tư nông nghiệp, hoạt động kém hiệu quả và đang sắp xếp lại rất chậm. Hoạt động các ngành nghề ở nông thôn không mang lại hiệu quả kinh tế cao, công nghệ lạc hậu, năng suất thấp và gây ô nhiễm môi trường Điều đó thể hiện ngay từ khâu dự báo (ví dụ như dự báo xuất khẩu gạo năm 2007, đầu 2008: Thái Lan xuất khẩu giá 1200 USD/tấn, ta lại không xuất khẩu sợ thiếu….). Tình trạng được mùa, giảm giá (cá tra, ba sa, gạo vào những năm vừa qua). Khả năng liên kết đặc biệt là liên kết 4 nhà theo Quyết định 80 của Chính phủ còn yếu kém và nhiều bất cập. Điều đó gây ảnh hưởng xấu đối với kinh doanh nông sản, không những ở trong nước mà còn ở thị trường ngoài nước.
- Hội nhập kinh tế quốc tế có nghĩa là chúng ta phải tiếp tục mở rộng thị trường, tìm kiếm thị trường mới, khôi phục thị trường truyền thống, điều đó nói lên là các sản phẩm từ nông nghiệp, nông thôn phải có mặt tại từng căn hộ, từng bữa ăn của người nước ngoài. Tuy vậy, sản xuất lương thực và thực phẩm chưa đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, thậm chí còn có những yếu tố gây nguy hại cho cả người sản xuất và người tiêu dùng. Tình trạng lạm dụng chất bảo vệ thực vật, kích thích tăng trưởng,… đã gây mối lo ngại cho người tiêu dùng. Trên thị trường quốc tế, các hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như gạo, thủy sản, cà phê,…chưa thực sự đảm bảo tiêu chuẩn sản phẩm sạch theo quy định của WTO và các yêu cầu của các nước nhập khẩu, đặc biệt là các nước có thu nhập cao yêu thích hàng Việt Nam. Chính những yếu kém về vệ sinh an toàn thực phẩm, đã và sẽ cản trở việc mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Vì vậy, đặt ra cho các sản phẩm Việt Nam vượt qua các hàng rào khắt khe kỹ thuật của nước ngoài cũng là một thách thức lớn.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn còn thấp. Đầu tư chưa tập trung vào lĩnh vực chế biến các mặt hàng nông lâm thủy sản vẫn dựa vào thu mua và xuất khẩu thô hoặc sơ chế. Sự phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị cũng góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn, nâng cao đời sống nhưng kéo theo hệ quả là đất nông nghiệp bị thu hẹp, người dân mất đất lại chưa được đào tạo làm gia tăng thất nghiệp, các tệ nạn xã hội, khoảng cách giàu nghèo gia tăng cũng làm cho nông nghiệp sẽ khó khăn hơn trong việc hội nhập kinh tế quốc tế.
- Những thách thức lớn nữa là trong Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải hoàn thiện luật pháp của Việt Nam phù hợp với các quy định, luật lệ của WTO, mở cửa thị trường nông sản hàng hóa, thực hiện thuế hoá các biện pháp phi thuế hoá, cam kết thuế, không trợ cấp của Chính phủ cho xuất khẩu, sự minh bạch các loại trợ cấp của Chính phủ với sản phẩm nông nghiệp…
3. Những giải pháp chủ yếu để nâng cao khả năng cạnh tranh của nền nông nghiệp Việt Nam
Trước những tác động không thuận lợi của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến nền nông nghiệp Việt Nam, chắc chắn rằng, chúng ta phải thực thi một hệ thống nhiều giải pháp một cách đồng bộ.
- Tiếp tục nâng cao nhận thức về hội nhập kinh tế quốc tế cho các cấp, các ngành, nhất là các chủ thể sản xuất-kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế nông thôn. Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, tập trung, có năng suất chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt cũng như lâu dài, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn.
- Thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, kinh tế nông thôn theo hướng tăng dần tỷ trọng chăn nuôi, sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến để nâng cao giá trị gia tăng của các mặt hàng nông sản. Hình thành các vùng sản xuất hàng hoá lớn, giá trị gia tăng cao, đặc biệt là các mặt hàng có lợi thế. Tăng cường đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn để đưa nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nâng cao vai trò của các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực sản xuất và chế biến các mặt hàng nông sản, tăng cường sự liên doanh, liên kết để phát triển nông nghiệp. Nâng cao sức cạnh tranh của các mặt hàng từ nông nghiệp và nông thôn. Củng cố và phát triển thị trường trong nước, đây là một trong những điều kiện cơ bản để mở rộng thị trường quốc tế. Rà soát, điều chỉnh lại quy hoạch theo hướng tập trung cho các ngành có khả năng cạnh tranh.
- Xây dựng nông thôn mới có kết cấu trong nền kinh tế-xã hội hiện đại. Trước mắt là đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, đầu tư cho phát triển và ứng dụng những tiến bộ khoa học, công nghệ cao vào nâng cao năng suất chất lượng, đặc biệt là các sản phẩm sạch, an toàn, thân thiện với môi trường. Duy trì và đẩy mạnh những chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn. Nâng cao vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước.
- Tiếp tục thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, có những biện pháp bảo vệ thị trường nội địa, phát triển thị trường xuất khẩu nông sản phù hợp với luật quốc tế. Xây dựng chính sách “cả gói” giải quyết vấn đề “tam nông” phù hợp với điều kiện Việt Nam trong khuôn khổ thực hiện các cam kết WTO, có biện pháp tích cực và quyết liệt nhằm khắc phục cách nghĩ, cách làm, cách sống của người “tiểu nông” trong quá trình hội nhập. Thay đổi những tập quán sản xuất, kinh doanh không phù hợp với xu hướng hội nhập. Khai thác tối đa những ưu đãi của WTO đối với nước ta, để nông nghiệp, nông thôn và nông dân hội nhập có hiệu quả.
- Thực hiện tốt trong thực tiễn Nghị quyết Trung ương 7 (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn làm cho nền nông nghiệp Việt Nam phát triển theo đường lối công nghiệp hoá nông nghiệp trong điều kiện Việt Nam lac thành viên của WTO. Đảm bảo đủ diện tích trồng lúa để giữ vững an ninh lương thực của quốc gia trước mắt cũng như lâu dài.
Kính thưa các đồng chí!
Cho đến nay đã có 15 bài tham gia hội thảo đề cập đến nhiều nội dung phong phú. Có thể nói, đây là vấn đề lớn, phức tạp, đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan nghiên cứu. Tuy nhiên, do điều kiện về thời gian, Ban Tổ chức đề nghị các đồng chí đại biểu, các nhà khoa học trao đổi những vấn đề trọng tâm nêu trên nhằm đánh giá một cách khách quan về những tác động tích cực, tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế đến phát triển nông nghiệp nước ta, nêu lên quan điểm và giải pháp phát triển nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn mới. Bởi vì, khi gia nhập WTO, nền nông nghiệp Việt Nam phải thực hiện một số cải cách theo hướng: Tiến hành những điều chỉnh cơ cấu và phải xoá bỏ nhiều khoản trợ cấp đối với nông nghiệp và cắt giảm thuế nhập khẩu nông sản, nên có thể diễn ra xu hướng: Thu nhâp của nông dân giảm sút do giá cả đầu vào ngày càng tăng, khoảng cách thu nhập giữa cư dân thành thị và nông thôn ngày càng gia tăng. Sự giảm sút một cách tương đối thu nhập của hộ nông dân sản xuất những sản phẩm nông nghiệp bị sản phẩm nhập khẩu cạnh tranh trực tiếp, tình trạng kém khả năng cạnh tranh của hàng hoá nông sản, đặc biệt là những sản phẩm dựa trên lợi thế đất đai, vốn không phải là thế mạnh của Việt Nam. Do đó, sẽ giảm lao động phổ thông nông nghiệp, cũng là giảm thu nhập của bộ phận này. Do vậy, việc nghiên cứu sự tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến nền nông nghiệp Việt Nam để có những giải pháp đẩy mạnh và chuyển nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, phân tán lạc hậu của nước ta hiện nay thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp đủ điều kiện để chủ động hội nhập quốc tế. Đồng thời, phải xây dựng được lộ trình mang tính định hướng cho nông nghiệp nước ta trong quá trình hội nhập là điều hết sức quan trọng và bức thiết.
Chúng tôi tin tưởng rằng cuộc hội thảo này sẽ đem lại nhiều kết quả tốt. Chúc hội thảo thành công.
Xin chúc các đồng chí sức khoẻ, hạnh phúc và thành đạt.
Xin chân thành cám ơn.