A.LỜI MỞ ĐẦU.
Văn hóa loài người được hình thành ngay từ khi có các hình thái tổ chức xã hội sơ khai. Khi có quan hệ tương tác, con người đã biết lợi dụng quan hệ để tạo nên sức mạnh chế ngự thiên nhiên, cải tạo môi trường kinh tế. Và gắn với mỗi giai đoạn phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là sự ra đời, phát triển của các tôn giáo để đáp ứng nhu cầu về tinh thần của con người. Do vậy, tôn giáo với tính cách hoàn chỉnh của một thuật ngữ là một hiện tượng văn hóa tinh thần có giáo chủ, giáo lý và tín đồ đã kịp thời đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thế giới, giải tỏa tạm thời những bức xúc chưa giải quyết được trong cuộc sống của đa só dân chúng.Trên thế giới hiện nay, có rất nhiều lại hình Tôn giáo khác nhau như: Đạo Phật, Đạo Hồi, Đạo Tin lành,... Những tôn giáo này có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của mọi người dân về mặt tâm linh, tinh thần cũng như thể xác, vật chất. Trong số đó có Công giáo với số lượng tín đồ lớn nhất, vào khoảng 1/6 dân số thế giới, chắc chắn Công giáo phải có ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động trên toàn thế giới nói chung cũng như ở Việt Nam nói riêng. Vậy Công giáo ở Việt Nam được thể hiện như thế nào và Đảng, Nhà nước ta đã có những chính sách gì để tạo điều kiện phát triển và quản lý tốt tôn giáo này? Để tìm hiểu về vấn đề này, chúng em chọn đề tài “Đạo Công giáo ở Việt Nam”.
B. NỘI DUNG.
I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CÔNG GIÁOVào đầu Công nguyên, ở vùng Trung Cận Đông thuộc vùng đất của đế quốc La Mã xuất hiện một tôn giáo mới thờ Đấng Cứu thế - ngôi hai Thiên Chúa, tiếng Hy Lạp là Jésus Christ. Danh xưng Jésus Christ dịch qua tiếng Việt được gọi tắt là Giêsu Kitô; chữ Jesus dịch qua âm Hán là Gia tô; chữ Christ là Cơ đốc. Như vậy, đạo thờ Đấng Cứu thế có những tên gọi theo cách dịch khác nhau: đạo Kitô, đạo Giatô, đạo Cơ đốc. Từ tôn giáo địa phương thế kỷ IV đạo Kitô trở thành tôn giáo của đế quốc La Mã rộng lớn và thường được gọi là Catholic. Thực ra tên gọi Catholic có từ rất sớm để chỉ những cộng đồng Kitô giáo ban đầu và nó có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: Katholikos có nghĩa là chung (General), là thông thường (Common) hay toàn bộ (Universal). Sau này, khi Kitô giáo phân rẽ thành Công giáo Rôma, Chính thống giáo, Tin lành, Anh giáo thì trong nhiều trường hợp Catholic (Công giáo) vẫn chỉ toàn bộ truyền thống Kitô giáo. Ở Việt Nam, Catholic gọi là Công giáo, có một thời kỳ người Việt Nam gọi Công giáo là Thiên Chúa giáo. Gọi như vậy không đúng vì cả Chính thống giáo, Tin lành, Anh giáo đều thờ Thiên Chúa. Thấy thế, có người bổ sung thêm từ Rôma và gọi là đạo Thiên Chúa hệ Rôma. Cách gọi này có vẻ rõ hơn nhưng xem ra cũng không chuẩn xác, nên đã trở lại tên gọi chính thức của nó là: đạo Công giáo.Đến thế kỷ XI, cụ thể là năm 1054 Ki-tô giáo diễn ra cuộc đại phân liệt lần thứ nhất, một bên theo văn hoá Hy Lạp, một bên theo văn hoá La tinh, gọi là phân liệt Đông - Tây, hình thành tôn giáo mới ở phương Đông: Chính thống giáo (Orthodoxism). Trong một số văn cảnh, người ta dùng các từ Đông phương, Hy Lạp, Constantinople để chỉ Chính thống giáo, các từ: Tây phương, La tinh, Rôma để chỉ Công giáo.Thế kỷ XVI, cuộc đại phân liệt lần thứ hai diễn ra trong Công giáo, hình thành một tôn giáo mới - đạo Tin lành. Cùng thời gian với việc ra đời đạo Tin lành, xuất hiện một trào lưu cải cách theo cách riêng ở nước Anh hình thành Anh giáo - Angelicalsm.Như vậy, Kitô giáo hay Cơ đốc giáo bao gồm: Công giáo (Catholic), Chính thống giáo (Orthodoxsm), Tin lành (Protestantism), Anh giáo (Angelicalism).II. CẤU TRÚC CỦA ĐẠO CÔNG GIÁO.1. Giáo chủGiáo chủ của Đạo Công giáo là Đức chúa Giêsu.2. Giáo lýGiáo lý Công giáo là một hệ thống từ giản đơn cho tín đồ đến phức tạp của các học thuyết kinh viện với các quan điểm triết học và thần học siêu hình, căn cứ vào kinh thánh nhưng phải dựa vào những lời giải thích truyền thống và là thẩm quyền của Giáo hội. Tín đồ không có quyền kê cứu kinh thánh. Công giáo đề cao thuyết thần quyền tuyệt đối (mọi việc do Chúa định) và thuyết giáo quyền tập trung (Giáo Hoàng là đại diện Thiên chúa ở trần gian). Hệ thống giáo lý của Công giáo bao gồm:Kinh thánh:- Kinh thánh theo quan niệm của giáo hội là “lời Chúa truyền dạy đời đời” là một bộ sách gồm 73 quyển được chia làm 2 bộ Tân ước và Cựu ước. Ban đầu Kinh thánh được truyền khẩu trong dân gian. Đến thế kỷ II thì bắt đầu được viết trên da dê, từ thế kỷ IV – VI được viết trên giấy Papêrút và đến thế kỷ VII mới viết thành sách. Kinh thánh là một kho tàng lịch sử và điển tích văn học. Trong Kinh thánh bao gồm toàn bộ toàn bộ quan điểm, tư tưởng của giáo lý và tín điều của các đạo Kitô. Tùy theo đạo mà số kinh này được chấp nhận theo yêu cầu của giáo lý các đạo. Ví dụ Đạo Chính thống chú trọng 5 cuốn đầu tiên của Kinh Cựu ước. Đạo Tin Lành lại lấy 4 cuốn Kinh Phúc âm làm giáo nghĩa cơ bản…- Kinh thánh chia làm 2 bộ:+ Bộ Cựu ước: có 46 cuốn. Kể về những chuyện trước khi Chúa Jésus ra đời. Bộ này chia làm 4 tập.Tập 1: Bao gồm 5 cuốn đầu tiên (Ngũ kinh) gồm Sáng thế ký, Xuất hành ký, Lê vi ký, Dân số ký, và Thân mệnh ký.Tập 2: là bộ sử thư gồm 16 cuốn. Tập 3:gồm 7 cuốn là những thi ca Triết học.Tập 4: gồm 14 cuốn sách Tiên tri.+ Bộ Tân ước: có 27 cuốn chia làm 4 tập.Tập 1: có 4 quyển sách nổi tiếng gọi là sách Phúc âm. 4 cuốn sách này mô tả cuộc đời của Chúa Jésus, nhất là 3 năm ông đi truyền đạo.Tập 2: bao gồm 15 cuốn nói về Công vụ tông đồ. Ghi lại các tông đồ làm việc như thế nào khi Chúa về trời.Tập 3: có 7 cuốn. Nói về hoạt động của 3 tông đồ giỏi nhất.Tập 4: có tên là Khải huyền thư. Ghi lại việc con người không nghe lời nên bị Chúa trừng phạt Mười hai tín điều cơ bản:Tín điều là 1 đoạn văn ngắn viết về các giáo lý chủ yếu tạo ra cơ sở cho bất kỳ phong trào tôn giáo nào hay bất kỳ giáo hội nào. Tín điều phải được chấp nhận không điều kiện (không chứng minh).Đối với Công giáo trong kinh Tín kính có 12 tín điều cơ bản. Trong đó 8 tín điều nói về bản chất Thiên Chúa, sự hiện thân của chúa Jésus và ơn cứu độ, 4 tín điều còn lại nói về giáo hội, nhà thờ và cuộc sống vĩnh hằng.Tín điều căn bản đầu tiên là niềm tin vào Thiên Chúa và sự màu nhiệm của Thiên Chúa. Thiên Chúa có ba ngôi: Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần nhưng cùng một bản thể. Ba ngôi “đồng vinh, đồng đẳng, đồng quyền” nhưng có chức năng và vai trò khác nhau. Cha – tạo dựng, Con – cứu chuộc, Thánh thần – thánh hoá..3. Hệ thống nghi lễ.- Bảy phép bí tích:Phép Bí tích: Một nghi lễ của Thiên Chúa giáo, theo đó ơn Chúa sẽ được đem đến cho các tín đồ. Trong các nghi lễ, phép bí tích là quan trọng nhất, thể hiện mối quan hệ giao tiếp giữa con người với Chúa. Có 7 bí tích:1. Bí tích rửa tội: nhằm xóa tội tổ tông và các tội bản thân. Hình thức là lấy nước lã đổ lên đầu kẻ lãnh bí tích rửa tội và đọc “(tên thánh) tôi rửa tội nhân danh cha, con và thánh thần” còn kẻ lãnh bí tích thề hứa bỏ ma quỷ lánh tội lỗi, tin theo Chúa Kitô giữ lề luật của Người.2. Bí tích thêm sức : để củng cố đức tin kính Chúa3. Bí tích thánh thể: ăn bánh thánh, uống rượu nho với ý nghĩa đó là mình và máu của Chúa Giêsu để được tha tội.4. Bí tích giải tội: dành cho người sám hối tội lỗi.5. Bí tích truyền chức thánh: chỉ dành cho giám mục và linh mục đã được tuyển chọn để họ có quyền tế lễ chăn dắt dân chúa.6. Bí tích hôn phối: là bí tích kết hợp hai tín hữu 1 nam, 1 nữ thành vợ chồng trước mặt Chúa.7. Bí tích xức dầu bệnh nhân: là bí tích nâng đỡ bệnh nhân về phần hồn và phần xác, giúp tín đồ chịu đựng đau khổ, dọn mình trước cái chết.- Mười điều răn của Chúa1. Phải thờ kính Thiên Chúa trên hết mọi sự.2. Không được lấy danh Thiên Chúa để làm những việc phàm tục, tầm thường.3. Dành ngày Chúa Nhật để thờ phụng Thiên Chúa4. Thảo kính cha mẹ.5. Không được giết người.6. Không được dâm dục.7. Không được tham lam lấy của người khác8. Không được làm chứng dối, che dấu sự giả dối.9. Không được ham muốn vợ (hoặc chồng) người khác.10. Không được ham muốn của cải trái lẽ.- Sáu điều răn của Hội Thánh1. Xem lễ ngày Chúa Nhật và ngày lễ buộc.2. Kiêng việc xác ngày Chúa Nhật.3. Xưng tội một năm một lần.4. Chịu lễ ngày phục sinh.5. Giữ chay những ngày quy định.6. Kiêng ăn thịt những ngày quy định.4. Tổ chức.4.1 Quan niệm của Công giáo về Giáo hội. Giáo hội Công giáo bao hàm các chức sắc từ giáo phẩm, tu sĩ, giáo dân. Tức là vừa tổ chức lãnh đạo, chế định ra các thể chế, truyền bá, giáo dục,… vừa là toàn thể cộng đồng tôn giáo- một cộng đồng mà Chúa là đấng tối cao. Cơ quan lãnh đạo của giáo hội thế giới ở tòa thánh vantican, do Giáo hoàng trực tiếp lãnh đạo, bên bưới là đoàn Hồng y giáo chủ. Cơ quan chủ yếu của Toà thánh gồm: Quốc vụ viện, Cục văn thư, cục tài chính…4.2 Phẩm trật trong Giáo hội Công giáo- Giáo hoàngTheo quan niệm của Công giáo. Giáo hoàng là người kế vị Thánh Phêrô (Pierre) và thay mặt Đức Chúa Giêsu làm đầu Hội thánh ở trần gian. Đức Giáo hoàng là biểu tượng và cơ sở của sự thống nhất trong đức tin và sự hiệp thông của các tín đồ.Giáo hoàng có quyền lực cao nhất và có trách nhiệm điều khiển mọi công việc của Hội thánh.- Giám mụcDưới Toà thánh Vaticăng là Hội thánh ở các địa phận. Điều khiển các Toà thánh ở địa phận là các giám mục. Giám mục có quyền lực tối cao trong địa phận mình cai quản và tuyệt đối tuân lệnh Giáo hoàng. Giám mục điều hành mọi công việc của địa phận, mỗi năm không được vắng quá 3 tháng ở các địa phận, không được cư ngụ ở nhà anh em.- Linh mụcCơ sở thấp nhất của Hội thánh là Giáo xứ (xứ đạo, họ đạo). Điều khiển giáo xứ và chăn dắt tín đồ là linh mục, linh mục tuyệt đối tuân lệnh giám mục. Có hai loại linh mục: linh mục “Triều” là những linh mục theo đơn vị hành chính từ xứ họ trở lên, linh mục “Dòng” là linh mục làm chuyên môn. Các linh mục có nhiệm vụ chăm sóc giáo dân, không được rời xa quá 2 tháng trong một năm, quyền lợi của các linh mục là quyền được làm các bí tích và và giáo huấn cho các tín đồ.Việc đào tạo một linh mục rất được coi trọng. Linh mục “Triều” phải qua 7 năm ở chủng viện, 2 năm giúp xứ, 6 năm học ở Đại chủng viện (học Triết học, tâm lý, ngoại ngữ, tâm lý, xã hội học, siêu hình học giáo sử...). Sau đợt sát hạch về về tư cách, ý chí, sức khoẻ, thi cử... các chủng sinh mới được thụ phong linh mục. Việc thụ phong từ linh mục lên giám mục cũng rất phức tạp: phải trên 30 tuổi, đã có 5 năm làm linh mục, có bằng cử nhân hoặc tiến sĩ thần học. Việc thụ phong giám mục phải trải qua 3 giai đoạn: đề nghị (hay tiến cử) của giáo dân, giai đoạn tuyên nhiệm (bổ nhiệm) của Giáo hoàng, và cuối cùng là thụ phong.III. ĐẠO CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM1.Quá trình du nhập vào Việt Nam.Vào thế kỷ XVI, Công giáo (Thiên chúa giáo) truyền vào Việt Nam do các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và sau là Pháp. Sự truyền đạo giai đoạn đầu ít gặp trở ngại do tính khoan dung của người Việt Nam và tính không đối dầu của tôn giáo bản địa nhưng sự truyền đạo đạt kết quả không cao. Sau đó Pháp vận động Giáo Hoàng cho phép độc quyền truyền đạo tại Việt Nam. Hội truyền giáo Pa-ri được thành lập năm 1660 cùng nhà nước Pháp tuyển chọn, đào tạo giáo sĩ, cử sang hoạt động ở Việt Nam và một số nước khác. Cuối thế kỷ XVIII, Giáo hội Công giáo Việt Nam đã có ba địa phận (Đàng trong, Đàng ngoài và Tây đàng ngoài) với khoảng 3 vạn giáo dân và 70 linh mục Việt Nam. Dưới triều Nguyễn, lúc đầu sự truyền giáo được nhà Nguyễn tạo nhiều điều kiện thuận lợi, nhưng sau đó thấy những hoạt động của giáo sĩ vừa truyền đạo vừa phục vụ cho âm mưu xâm lược của thực dân Pháp nên nhà Nguyễn đã cấm đạo nhất là từ khi thực dân Pháp bộc lộ rõ ý đồ thôn tính Việt Nam. Việc cấm đạo gay gắt tạo sự chia rẽ nhất định trong nhân dân. Do sự thao túng bởi các thế lực bên ngoài, trong cuộc kháng chiến đánh đuổi đế quốc, thực dân giáo hội đã đứng về phía xâm lược. Mặc dù vậy, một bộ phận chức sắc đã dung hoà được quyền lợi của dân tộc với tôn giáo và đông đảo tín đồ với ý thức dân tộc và lòng yêu nước đã đứng về phía kháng chiến và đã đóng góp không chỉ vật chất, tinh thần mà còn cả xương máu cho cách mạng. 2.Hoạt động của Đạo Công giáo2.1. Hội đồng giám mục Việt Nam. - Hội đồng Giám mục Việt Nam là một tổ chức có tính cách pháp nhân, gồm tất cả các giám mục đang thi hành phận sự mục vụ, nơi các giáo phận tại Việt Nam. - Trụ sở của Hội đồng giám mục Việt Nam:+ Văn phòng 1: Tòa Tổng giám mục Hà Nội+ Văn phòng 2: Trung tâm công giáo TPHCM - Đại hội đồng giám mục Việt Nam được tiến hành 3 năm một lần. Đại hội thường kệ mỗi năm một lần. Có thể có họp ngoại lệ nếu thấy có vấn đề quan trọng.- Hội đồng giám mục Việt Nam có Văn phòng Tổng thư ký giúp việc.- Hội đồng giám mục Việt Nam có các Uỷ ban giám mục nhằm đáp ứng nhu cầu mục vụ hiện tại.- Thành viên của Hội đồng giám mục Việt Nam gồm:+ Tất cả các giám mục giáo phận tại Việt Nam.+ Các giám mục phó và giám mục phụ tá của các giám mục giáo phận.- Hội đồng giám mục Việt nam lấy mục đích xây dựng Giáo hội mầu nhiệm - hiệp thông - truyền giáo và phục vụ con người trong xã hội làm điểm quy chiếu cho mọi sinh hoạt và quyết định của mình.2.2. Tình hình hoạt động Công giáo ở Việt Nam từ sau năm 1975Sau 1975, với thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và những tác động của sự chuyển đổi của Công đồng Vaticăng II từ sau năm 1975 Giáo hội Công giáo Việt Nam có nhiều sự biến đổi. Năm 1976, Giáo hoàng phong chức Hồng y đầu tiên cho một Giám mục Việt Nam. Năm 1980, các Giám mục trong cả nước đã họp hội nghị để thống nhất đường lối của giáo hội. Hội nghị đã thành lập Hội đồng giám mục Việt Nam và ra thư chung 1980 với phương châm “sống phúc âm trong lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc đồng bào”. Trong những năm gần đây Công giáo nước ta có chiều hướng phát triển. Số lượng tín đồ tăng do sự gia tăng dân số tự nhiên và một số tín đồ khô đạo, nhạt đạo trở lại sinh hoạt. Số tín đồ Công giáo nước ta hiện nay khoảng 5 triệu (năm 2010), hiện nay đang có cuộc sống ổn định và phấn khởi trước cuộc đổi mới và chính sách tôn giáo của Đảng đang chăm lo cải thiện đời sống và tham gia vào các hoạt động xã hội nhân đạo, an ninh trật tự, phòng chống các tệ nạn xã hội và thể hiện cuộc sống theo phương châm “tốt đời, đẹp đạo”, “kính Chúa yêu nước”. Tuy nhiên, trong Công giáo còn một số chức sắc chưa thể hiện rõ được ý thức công dân, không đặt lợi ích của Công giáo trong lợi ích của dân tộc, muốn hoạt động của Giáo hội nằm ngoài sự quản lý của nhà nước3. Ảnh hưởng của Đạo Công giáo đối với văn hóa Việt Nam3.1. Trước hết, đạo Công giáo là cầu nối giao lưu giữa văn hoá Việt Nam và thế giớiĐạo Công giáo ra đời từ Tiểu Á nhưng lại phát triển mạnh ở châu Âu nên khi vào Việt Nam, nó cũng mang theo cả văn hoá, văn minh phương Tây vào theo. Trong số những nhà truyền giáo buổi đầu, không ít người được đào tạo bài bản trong các dòng tu, học viện phương Tây nên họ cũng là những nhà khoa học tinh thông nhiều lĩnh vực. Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) năm 1627 đã mang biếu Chúa Trịnh chiếc đồng hồ chạy bằng bánh xe và cuốn Kỷ hà nguyên bản của nhà toán học Euclide, đồng thời giảng giải cho Trịnh Tráng nghe. Giáo sĩ Badinoti (người Ý) năm 1626 cũng được vời về phủ chúa để giảng về thiên văn, địa lý và toán học. Các giáo sĩ Da Coxta, Langerloi đã mang vào Đàng Trong phương pháp chữa bệnh theo lối Tây y nên được nhà chúa cho mở nhà thương (bệnh viện).3.2. Công giáo với việc xây dựng chữ Quốc ngữChữ Quốc ngữ là công trình tập thể của nhiều giáo sĩ nước ngoài với sự cộng tác của người Việt. Dĩ nhiên mục đích của các nhà truyền giáo lúc đầu là để truyền giáo được dễ dàng hơn nhưng nó lại phù hợp với tiến trình phát triển và tinh thần độc lập, tự cường dân tộc nên các chí sĩ của phong trào Đông kinh nghĩa thục coi đó là “một trong sáu phương kế để mở mang dân trí”.3.3.Văn hoá Công giáo làm phong phú văn hoá ViệtTôn giáo là một thành tố quan trọng của văn hoá và bản thân tôn giáo cũng là văn hoá nên việc đạo Công giáo vào Việt Nam đã làm phong phú cho văn hoá Việt không chỉ thêm một tôn giáo mới mà còn bổ sung rất nhiều sắc thái mới khác nữa.Cả một kho tàng ca dao, tục ngữ Công giáo cũng đã được lưu hành để phản ánh về phong tục, tập quán của cộng đoàn này. Ví dụ các câu ghi kinh nghiệm sản xuất:- Lễ Rosa (7-10) thì tra hạt bíLễ Các thánh (1-11) thì đánh bí ra.- Lễ Các thánh gánh mạ đi gieoLễ Sinh nhật (25-12) giật mạ đi cấy…3.4. Giáo lý Công giáo góp phần xây dựng lối sống lành mạnh trong xã hộiCũng như nhiều tôn giáo khác, đạo Công giáo cũng luôn buộc các tín hữu phải sống lành mạnh, hướng thiện. Giáo lý Công giáo không chỉ cấm giáo dân làm điều ác mà cấm cả suy nghĩ không lành mạnh, Đạo Công giáo cũng cổ vũ cho các hoạt động bác ái, từ thiện.4. Các quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với Đạo Công giáo4.1. Quan điểm, chủ trương của Đảng đối với tôn giáo:Trước sau như một, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương thi hành nhất quán chính sách tôn giáo, thể hiện trong một số quan điểm cơ bản dưới đây:1, Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân.2, Ở Việt Nam quyền tự do tín ngưỡng được tôn trọng.3, Cộng đồng những người có đạo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân.4, Cốt lõi của công tác tôn giáo là vận động toàn chúng.Những quan điểm trên được thể hiện trong Văn kiện Đảng toàn tập:“- Làm cho quần chúng đừng thành kiến với công giáo; - Tuyên truyền yêu nước nhưng phải tôn trọng Chúa, cố kéo các cố, Cha ta, đừng để Pháp lợi dụng;- Tổ chức những ủy ban, những ngày lương giáo đoàn kết;- Chính phủ chú ý cải thiện đời sống ở một vài địa phương công giáo một cách khéo léo để làm tượng trưng cho sự tuyên truyền chung;- Điều hòa quyền lợi giữa con chiên nghèo với các cha;- Nâng đỡ hội nghị cán bộ công giáo (kiểm điểm sai lầm, khuyết điểm)”Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.8 tr. 106-107.“Đối với đồng bào Công giáo, chúng ta phải càng chú trọng hơn nữa vì khẩu hiệu “bãi công” cũng như “tôn quân” rất dễ lan rộng trong quần chúng Công giáo. Vì thế chính sách đoàn kết đối với đồng bào Công giáo phải là một việc thật sự. Chúng ta đừng để cho thực dân Pháp lợi dụng một việc gì để lôi kéo đồng bào Công giáo chống ta. Chúng ta không bỏ qua cơ hội nào để để thân thiện với đồng bào Công giáo, nâng cao tinh thần ái quốc, kháng chiến của họ. Trong giới Công giáo luôn nêu cao khẩu hiệu: vì Chúa, vì Tổ quốc, ủng hộ mặt trận kháng chiến, Chính phủ kháng chiến. Phải có những ủy ban vận động đặc biệt đồng bào Công giáo. Phải có những biện pháp cụ thể để siết chặt tình thân thiện giữa lương và giáo”Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.8 tr.352.Để hiện thực hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng vào trong đời sống xã hội, đã có nhiều văn bản được ban hành:- Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội- Nghị quyết Hội nghị lần thứ bẩy Ban chấp hành Trung ương khóa IX số 23-NQ/ TW, ngày 12 tháng 3 năm 2003 về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.- Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa IX, số 25-NQ/TW, ngày 12 tháng 3 năm 2003 về công tác tôn giáo.- Pháp lệnh của ủy ban thường vụ Quốc hội, số 21/2004/PL-UBTVQH11 ngày 18 tháng 6 năm 2004 về tín ngưỡng tôn giáo.4.2. Chính sách của Nhà nước đối với Đạo Công giáoTrong cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước ta, cơ quan quản lý nhà nước các hoạt động tôn giáo được thành lập và có hệ thống từ Trung ương xuống đến cơ sở, cao nhất là Ban Tôn giáo Chính phủ với chức năng “ quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo trong phạm vi cả nước” (Điều 1, nghị định 37/NĐ-CP). Cũng như các tôn giáo khác đã được công nhận, hoạt động của Công giáo ở Việt Nam cũng phải tuân thủ các qui định, chính sách của Nhà nước đối với hoạt động của Hội.
C. KẾT LUẬN
Công giáo Việt Nam là một bộ phận của Công giáo thế giới, Giáo hội Công giáo Việt Nam về cơ bản mang những đặc điểm chung về hệ thống tổ chức , hoạt động tôn giáo của Công giáo thế giới song trong từng thời kì lịch sử truyền giáo phát triển đạo mà hệ thống tổ chức ,sinh hoạt tôn giáo ...của Công giáo Việt Nam có những biểu hiện đặc thù.Trong đời sống chính trị, sinh hoạt tôn giáo là một trong những hiện tượng có ảnh hưởng theo nhiều phương diện: tích cực và không tích cực. Do vậy hoạt động quản lý nhà nước đối với đạo Công giáo , cần vận dụng đúng các quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với tôn giáo, tín đồ; tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào có đạo thực hiện “sống tốt đời đẹp đạo”, xây dựng cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn.Tài liệu tham khảo:1. Giáo trình Quản lý nhà nước về tôn giáo và dân tộc của NXB Giáo dục.2. Trang Web của Ban Tôn giáo Chính phủ: http://btgcp.gov.vn.3. Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trong điều kiện xây dựng Nhà nước dân chủ, pháp quyền Việt Nam của NXB Công an Nhân dân.4. Một số quan điểm của Đảng và nhà nước Việt Nam về Tôn Giáo của NXB Chính trị Quốc gia.
MỤC LỤC
A. Lời mở đầu............................................ .....................................
B. Nội dung.............................................. .......................................
I. Lịch sử hình thành Công giáo..........................................
II. Cấu trúc của Đạo Công giáo...........................................
1. Giáo chủ............................................. ....................................
2. Giáo lý............................................... .....................................
3. Hệ thống nghi lễ tôn giáo............................................. .............
4. Tổ chức của Công giáo............................................. ...............
III. Đạo Công giáo ở Việt Nam..............................................
1. Quá trình du nhập............................................ .........................
2. Hoạt động của Giáo hội Công giáo Việt Nam.............................
3. Ảnh hưởng của Đạo Công giáo
đối với văn hóa Việt Nam............................................... ..............
4. Các quan điểm, chính sách của Đảng
Và Nhà nước ta đối với Đạo Công giáo.........................................
C. Kết luận............................................ ..........................................