HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH

TIỂU LUẬN
MÔN: TÂM LÝ HỌC QUẢN LÝ
ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU VỀ PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO ĐỘC TÀI, GIA TRƯỞNG.

HÀ NỘI - 2011






A, Giới thiệu chung:
Bước vào thế kỷ XXI, thế giới đã mang theo nhiều những biến đổi to lớn mang tính toàn cầu. Chỉ trong hai thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, loài người đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, cuộc cách mạng trong kỹ thuật sinh học và đặc biệt là những biến đổi trong quan niệm về mối quan hệ người – người. Trong các quan hệ xã hội, vai trò của con người được đề cao hơn bao giờ hết, nhất là những người lãnh đạo.
Những nhân tố lãnh đạo tuyệt vời dường như bất biến về mặt thời gian và không ngừng được mở rộng về mặt không gian. Từ thời thượng cổ, cả thế giới luôn khát khao tìm kiếm những nhà lãnh đạo lớn. Trong quãng thời gian chiến tranh và hỗn loạn, các nhà lãnh đạo lớn thường xuất hiện để vạch ra con đường dẫn đến hoà bình. Trong quãng thời gian của sự hoà bình và thịnh vượng, các nhà lãnh đạo lớn vẫn cần để duy trì hệ thống trật tự hay tìm ra các hướng đi phát triển mới. Có thể thấy,các nhà lãnh đạo lớn luôn nhận được sự ngưỡng mộ từ mọi người. Nhưng làm thế nào chúng ta phân biệt được những nhà lãnh đạo thực thụ từ vô khối những con người khác nhau???
Một thực tế không thể phủ nhận rằng với thời đại ngày nay sẽ không còn đất cho sự tồn tại của một ông giám đốc chỉ biết ngồi chờ đợi khách hàng tới mua - bán sản phẩm do doanh nghiệp mình làm ra sẵn, mà phớt lờ đi nhu cầu, nguyện vọng của khách hàng. Người lãnh đạo – quản lý phải nắm được trong tay mình một thứ vũ khí quan trọng, đó chính là phong cách lãnh đạo hợp lý. Phong cách lãnh đạo hợp lý là phong cách mà ở đó người lãnh đạo vừa đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của người lao động, vừa phát huy được sức mạnh cá nhân và tập thể người lao động trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong môi trường kinh tế toàn cầu và mang tính cạnh tranh khốc liệt như ngày nay, sự thành công của một doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào phong cách lãnh đạo của nhà lãnh đạo, chứ không chỉ phụ thuộc vào việc thay đổi kỹ thuật, công nghệ, đầu tư vốn…như trước kia. Vì vậy, bản thân mỗi nhà lãnh đạo phải xây dựng được cho mình một phong cách lãnh đạo phù hợp và phải biết vận dụng ưu thế của từng kiểu phong cách lãnh đạo trong từng hoàn cảnh cụ thể. Có thể khẳng định rằng phong cách lãnh đạo sẽ là chìa khoá của 90% thành công trong làm ăn của 1 doanh nghiệp. Vậy phong cách lãnh đạo là gì?
Lãnh đạo là một khía cạnh quan trọng trong quản lý, lãnh đạo có hiệu quả là một trong những chìa khoá để trở thành một nhà quản lý giỏi. Cũng như việc thực hiện những nhiệm vụ cốt yếu khác của quản lý tức là việc thực hiện trọn vẹn việc quản lý- có một ý nghĩa quan trọng để đảm bảo rằng một nhà quản lý có thể trở thành một nhà lãnh đạo có hiệu quả. Các nhà quản lý phải thực hành tất cả các yếu tố trong vai trò của họ để kết hợp nguồn nhân lực và vật lực nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.
Một cách khái quát, lãnh đạo được xác định như là sự tác động, như một nghệ thuật, hay là một quá trình tác động đến con người sao cho họ sẽ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Một cách lý tưởng, mọi người cần được khuyến khích để phát triển không chỉ sự tự nguyện làm việc còn làm việc với sự sốt sắng và tin tưởng. Sự sốt sắng là sự nhiệt tình, nghiêm chỉnh và chăm chú trong thực hiện công việc, sự tin tưởng thể hiện kinh nghiệm và khả năng kỹ thuật.
Mỗi tổ chức thực hiện được gần như toàn bộ năng lực của họ đều có một người nào đó với tư cách đứng đầu nhóm, có kỹ năng trong nghệ thuật lãnh đạo. Kỹ năng này dường như là sự kết hợp của ít nhất ba yếu tố cấu tạo chính: 1. khả năng nhận thức được rằng con người có những động lực thúc đẩy khác nhau ở những thời gian khác nhau và trong những hoàn cảnh khác nhau, 2. khả năng khích lệ và 3. khả năng hành động theo một phương pháp mà nó sẽ tạo ra một bầu không khí hữu ích cho sự hưởng ứng và khơi dậy những động cơ thúc đẩy. Yếu tố cấu thành thứ ba của sự lãnh đạo liên quan đến phong cách của người lãnh đạo.
Từ góc độ lý luận cũng như tâm lý học quản lý có nhiều cách định nghĩa về phong cách lãnh đạo. Có người cho rằng, phong cách lãnh đạo là cách thức làm việc của nhà lãnh đạo. Hay Phong cách lãnh đạo là hệ thống các đấu hiệu đặc trưng của hoạt và động quản lý của nhà lãnh đạo, được quy định bởi các đặc điểm nhân cách của họ.
Hoặc, phong cách lãnh đạo là kết quả của mối quan hệ giữa cá nhân và sự kiện được biểu hiên thành công thức:
Phong cách lãnh đạo = Cá nhân x Môi trường”.
Nhìn chung, những định nghĩa trên đã đề cập và phản ánh khá rõ nhiều mặt, nhiều đặc trưng khác nhau của phong cách lãnh đạo. Tuy nhiên, phần lớn các định nghĩa chỉ nhấn mạnh đến mặt chủ quan, mặt cá tính của chủ thể lãnh đạo chứ chưa đề cập, xem xét phong cách lãnh đạo như một kiểu hoạt động. Kiểu hoạt động đó được diễn ra như thế nào còn phụ thuộc vào yếu tố môi trường xã hội, trong đó có sự ảnh hưởng của hệ tư tưởng, của nền văn hoá... Như vậy, chúng ta có thể đính nghĩa như sau: Phong cách lãnh đạo là kiểu hoạt động đặc thù của người lãnh đạo được hình thành trên cơ sở kết hợp chặt chẽ và tác động qua lại biện chứng giữa yếu tố tâm lý chủ quan của người lãnh đạo và yêu tố môi trường xã hội trong hệ thống quản lý.
Sau đây, với sự hiểu biết còn hạn chế, nhóm chúng tôi, gồm các thành viên:
1. Ngô Thị Bích Phương – KH10a5
2. Đinh Thị Liên - KH10a5
3. Nguyễn Xuân Canh - KH10a6
4. Lục Thị Quyên - Kh10a6
Xin được trình bày những nghiên cứu về phong cách lãnh đạo độc tài, gia trưởng_một trong những phong cách nổi bật, gây nhiều tranh cãi trong hoạt động lãnh đạo, quản lý.Bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của giảng viên bộ môn tâm lý học quản lý và các bạn sinh viên, để bài nghiên cứu của chúng tôi thêm hoàn thiện.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!













B. Nội dung tìm hiểu:
I. Lịch sử hình thành phong cách lãnh đạo độc tài, gia trưởng:
Trong những công trình của các tác giả phương Tây, thường nêu lên hai kiểu quản lý (phong cách lãnh đạo) cơ bản. Đó là kiểu quản lý dân chủ và kiếu quản lý mệnh lệnh.
Kiểu quản lý dân chủ được đặc trưng bằng việc người quản lý biết phân chia quyền lực quản lý của mình, tranh thủ ý kiến cấp dưới, đưa họ tham gia vào việc khởi thảo các quyết định. Kiểu quản lý này còn tạo ra những điều kiện thuận lợi để cho những người cấp dưới được phát huy sáng kiến, tham gia vào việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch, đồng thời tạo ra bầu không khí tâm lý tích cực trong quá trình quản lý.
Kiểu quản lý mệnh lệnh độc đoán được đặc trưng bằng việc tập trung mọi quyền lực vào tay một mình người quản lý, người lãnh đạo - quản lý bằng ý chí của mình, trấn áp ý chí và sáng kiến của mọi thành viên trong tập thể.
K. Lêvin, người Đức, sau sinh sống và làm việc tại Mỹ, là người đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống các phong cách quản lý. Theo ông, ngoài 2 phong cách quản lý trên còn có một kiểu thứ 3. Đó là kiểu quản lý hình thức (hay phong cách quản lý tự do). Theo kiểu này, người quản lý chỉ vạch ra kế hoạch chung, ít tham gia trực tiếp chỉ đạo, thường giao khoán cho cấp dưới và làm các việc khác ở văn phòng. Chỉ làm việc trực tiếp với người bị quản lý hay tập thể trong những trường hợp đặc biệt.
Sau này, bằng những kết quả nghiên cứu về các phong cách lãnh đạo trong các tập thể, các nhà tâm lý học đã chỉ ra rằng: ở mỗi phong cách lãnh đạo (dân chủ, độc đoán, tự do) đều có những điểm mạnh, điểm yếu. Tuy nhiên, phong cách lãnh đạo dân chủ sẽ đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn. Nói điều này không đồng nghĩa với việc phủ nhận hiệu quả của phong cách lãnh đạo độc đoán và phong cách lãnh đạo tự do. Điều quan trọng nhất đối với nhà quản lý đó là phải biết vận dụng một cách linh hoạt phong cách lãnh đạo của mình trong các tình huống quản lý cụ thể. Điều này đã được khẳng định qua các công trình nghiên cứu. Người ta thấy rằng, kiểu quản lý mệnh lệnh độc đoán sẽ đạt hiệu quả khi nhà quản lý cần đề ra những yêu cầu cứng rắn, những tình huống cần phải giải quyết ngay trong một thời gian ngắn. Sẽ là không tưởng nếu vị chỉ huy trong một trận đánh khí ra quyết đính tấn công hay rút lui lại phải họp toàn thể quân lính để hỏi ý kiến. Hay người quản lý một tập thể các nhà khoa học có thể sử dụng phong cách lãnh đạo tự do để khuyến khích các nhà khoa học đó được tự do trong việc triển khai các công trình nghiên cứu, thí nghiệm...
Kế thừa các tư tưởng nghiên cứu về phong cách lãnh đạo - quản lý, Rensis Likert, một nhà tâm lý học người Mỹ cùng các đồng nghiệp của ông ở đại học tổng hợp Michigan đã nghiên cứu các kiểu mẫu và các phong cách của những nhà lãnh đạo và quản lý trong 3 thập kỷ (1930 - 1960). Likert đã đưa ra ý tưởng và những cách tiếp cận mới đối với việc hiểu biết các hành vi lãnh đạo. Theo Likeđ có 4 kiểu phong cách lãnh đạo - quản lý:
Thứ nhất, phong cách quản lý "quyết đoán - áp chế”(Biến tướng của phong cách độc tài, gia trưởng). Ở phong cách này các nhà quản lý chuyên quyền cao độ ít có lòng tin với cấp dưới, thúc đẩy người ta bằng đe doạ và thưởng phạt bằng những phần thưởng hiếm hoi, tiến hành thông tin từ trên xuống và giới hạn ở việc ra quyết định ở cấp cao nhất.
Thứ hai, phong cách lãnh đạo quyết đoán - nhân từ.
Thứ ba, phong cách quản lý tham vấn.
Thứ tư, phong cách quản lý "tham gia - theo nhóm”.
Khác hẳn với các nhà Tâm lý học Phương tây, các nhà Tâm lý học Xô Viết giải quyết vấn đề phong cách lãnh đạo trong sản xuất kinh doanh dưới ý thức, lập trường của các Đảng Cộng sản, dưới học thuyết của chủ nghĩa Mác Lênin. Theo V.I. Mikhaep đưa ra các phong cách lãnh đạo sau: phong cách dân chủ tập thể, phong cách này không phải một người mà là một tập thể quản lý, lãnh đạo, mặt hạn chế của phong cách này là tạo ra sự ỷ lại, cha chung không ai khóc trong tổ chức. Phong cách độc đoán, ngược lại với phong cách trên phong cách lãnh đạo này lại không coi trọng người dưới quyền, người quản lý cho rằng mình là người giỏi nhất. Phong cách lãnh đạo này phổ biến ở các cấp lãnh đạo trung ương. Phong cách khái quát, đây là một phong cách lãnh đạo người lãnh đạo “thoáng” trong quản lý, nắm lấy điểm cốt yếu của công việc. Ngược lại với phong cách khái quát là phong cách chi tiết; chi tiết hoá trong công việc.

Theo quan điểm của V. Gaphanaxep ( Ông là Trưởng ban công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô ), nghiên cứu các tổ chức xã hội và doanh nghiệp ở trung ương và cơ sở đã đưa ra các phong cách lãnh đạo như sau: phong cách lãnh đạo độc đoán, phong cách lãnh đạo dân chủ, phong cách lãnh đạo hành chính, phong cách lãnh đạo cách biệt, phong cách lãnh đạo mang tính chất tâm lý xã hội.

II, Khái niệm và đặc điểm của phong cách lãnh đạo độc tài, gia trưởng:
1, Khái niệm:
Phong cách lãnh đạo độc tài, gia trưởng được hiểu là sự áp đặt công việc với sự kiểm soát và giám sát chặt chẽ. Nhà lãnh đạo độc tài thường lấy mình làm thước đo giá trị. Họ không quan tâm đến ý kiến cua người khác, dù là đồng đội hay nhân viên, mà chỉ hoàn toàn dựa vào kiến thức kinh nghiệm của mình. Hình thức này thường phù hợp với lối quản lý cổ điển hoặc khi tổ chức đang trong tình trạng canh tân nội bộ để loại trừ những phần tử làm lũng đoạn sinh hoạt chung. Nhất là khi tinh thần kỉ luật và trật tự tổ chức lỏng lẻo cần sửa đổi.
2. Đặc điểm :
- Kiểu lãnh đạo độc tài được đặc trưng bằng việc tập trung mọi quyền lực vào tay một người lãnh đạo.Lãnh đạo bằng ý chí của mình, trấn áp ý chí và sáng kiến của mọi thành viên trong tập thể.
- Một người quản lý có phong cách làm việc độc đoán sẽ điều hành với tư tưởng nhân viên phải làm những gì họ nói, hoàn thành công việc theo định hướng được các ông chủ vạch ra và đã được xác định bởi mong muốn của việc sản xuất. Các nhà quản lý độc tài thường gọi cho các nhà quản lý cấp dưới và đưa cho họ chỉ thị cũng như lời khuyên với tư tưởng nhân viên sẽ tuân theo. Họ cảm thấy nhân viên cần sự chỉ đạo nghiêm ngặt hơn, các biện pháp kiên quyết và quyết định mạnh mẽ hơn. Điều này tạo nên các kỹ năng quản lý. Phong cách quản lý này cho phép nhân viên biết những gì họ cần phải làm, họ sẽ làm như thế nào và lúc nào các nhiệm vụ phải hoàn thành.
- Các nhà lãnh đạo chuyên quyền cao độ, ít có long tin vào cấp dưới.
- Nhà lãnh đạo thúc đẩy nhân viên bằng đe dọa.
- Quá trình quản lý thông tin từ trên xuống và giới hạn ở việc ra quyết định ở cấp cao nhất, không cho phép nhân viên trực tiếp tham gia vào quá trình ra quyết định.
- Nhân viên thường ít thích người lãnh đạo.
- Hiệu quả công việc cao chỉ khi có mặt người lãnh đạo, thấp khí không có người lãnh đạo.
- Không khí trong tổ chức thường nặng nề, gây hấn, tạo áp lực, chủ yếu phụ thuộc vào định hướng cá nhân của người quản lý.
*, So sánh phong cách lãnh đạo độc tài gia trưởng với phong cách lãnh đạo tự do & phong cách lãnh đạo dân chủ:
Phong cách lãnh đạo

Tiêu chí so sánh

PCLĐ Độc tài

PCLĐ Dân Chủ

PCLĐ Tự Do
Quyền lực lãnh đạo
Tập trung vào tay người lãnh đạo, người lãnh đạo quyết định mọi công việc
Lãnh đạo giải quyết công việc cùng nhân viên. Trước khi ra quyết định 1 việc gì cũng đưa ra trước tập thể lấy ý kiến của mọi người
Hiệu quả công việc
Hiệu quả công việc cao khi có người lãnh đạo ở đó , thấp khi không có mặt người lãnh đạo
Đạt hiệu quả cao dù có mặt hay không có mặt của người lãnh đạo
Hiệu quả công việc không cao ( vì người lãnh đạo vắng mặt thường xuyên)
Không khí nơi làm việc
Không khí làm việc ngột ngạt, căng thẳng, tạo cảm giác mệt mỏi cho nhân viên. Nhân viên ít thích người lãnh đạo.
Không khí làm việc thoải mái, thân thiện, tạo hứng thú làm việc cho nhân viên.Nhân viên rất thích người lãnh đạo.
Định hướng công việc
Định hướng mang tính cá nhân người lãnh đạo
Định hướng nhóm, định hướng dịch vụ.
Trường hợp áp dụng
Áp dụng đối với những tổ chức thiếu kỉ luật, rơi vào tình trạng khó khăn, hoặc khi đội ngũ nhân viên thiếu kinh nghiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn yếu kém.
Áp dụng với tổ chức mà trình độ quản lý còn chưa cao.
Áp dụng cho tổ chức có đội ngũ nhân viên dưới quyền giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, có tính sáng tạo cao


3, Ưu nhược điểm của phong cách lãnh đạo độc tài, gia trưởng:

*Ưu điểm:
- Tạo tính ổn định, trật tự cao trong tổ chức.
- Nhà lãnh đạo sẽ trở thành 1 huấn luyện viên tốt với đầy đủ năng lực và trình độ cho các nhân viên mới
- Nâng cao tính hiệu lực trong quản lý.
- Trong những tính huống bất ngờ,bất chắc đòi hỏi phải đưa ra quyết định xử lý ngay, hoặc những bất đồng trong trong tập thể hay những tình gây hoang mang, thì việc sử dụng phong cách lãnh đạo này sẽ đem lại hiệu quả rất cao.
* Nhược điểm:
- Đôi khi hiệu quả công việc không cao.
- Gây tâm lý lo sợ trong nhân viên. Họ sợ chứ không phục người lãnh đạo cho nên làm việc không hết tâm => hạn chế năng lực làm việc.
- Kìm hãm, thậm chí dập tắt tính năng động và sáng tạo của nhân viên.
- Tạo không khí căng thẳng ngột ngạt => ảnh hưởng đến kết quả công việc.
- Không tập trung được nhiều ý kiến, sáng kiến tốt .Các quyết định quản lý mang tính chủ quan duy ý chí nên tính khả thi công việc không cao.
- Người lãnh đạo dễ nảy sinh tâm lý chuyên quyền, hách dịch, ảnh hưởng không tốt đến tổ chức.
III, Ứng dụng phong cách lãnh đạo độc tài gia trưởng trong công tác quản lý:
Theo dòng lịch sử, chúng ta có thể thấy phông cách lãnh đạo độc tài gia trưởng đã có một lịch sử lâu đời và được áp dung khá phổ biến. Tuy nhiên việc áp dụng phong cách này sẽ như 1 “con dao hai lưỡi”, nó có thể đem lại hiệu quả rất cao, thậm chí có thể vực dậy 1 tổ chức đang trên bờ vực thẳm của sự phá sản. Nhưng nó cũng có thể biến một tổ chức đang “ ăn nên làm ra” phải dần tự “ đóng cửa”.
Thật vây, ngược trở về với thời phong kiến của Việt Nam, với phong cách lãnh đạo độc tài, gia trưởng, Việt Nam cũng đã có những triều đại phát triển cực thịnh như: Triều đại nhà Lý, Nhà Lê sơ, Nhà Nguyễn, đặc biệt là thời vua Minh Mạng.
Nói về hiệu quả của phong cách lãnh đạo này không thể không nhắc đến các chính khách thành danh trên thế giới, đặc biệ là trong các cuộc bầu cử Tổng thống. Khi xã hội Pháp đang có sự tự do cao, dẫn tới sức ỳ lớn, 1 nhân vật cứng rắn như Sarkozy đã chiến thắng và tạo ra nhiều cải cách mang tính cứng rắn trong xã hội. Nicolas Sarkozy sinh ngày 28 tháng 1 năm 1955 với tên Nicolas Paul Stéphane Sarközy de Nagy-Bocsa, là Tổng thống đương nhiệm của Cộng hòa Pháp. Với cương vị nguyên thủ quốc gia, Sarkozy đương nhiên nhận tước vị Hoàng thân xứ Andorra, và là Tổng Chỉ huy Binh đoàn Danh dự .Ngày 6 tháng 5 năm 2007, Sarkozy đắc cử tổng thống sau khi đánh bại đối thủ thuộc Đảng Xã hội, Ségolène Royal, trong cuộc tổng tuyển cử năm 2007. Sarkozy giành được 53,4% trong khi đối thủ của ông chỉ nhận được 46,6% phiếu bầu. Số cử tri đi bầu đạt 85,5 %, mức cao nhất kể từ năm 1981 cho tới nay. Trước đó, ông là lãnh tụ đảng UMP (Union pour un Mouvement Populaire) hữu khuynh.
Sarkozy nổi tiếng với lập trường bảo thủ trong các vấn đề luật pháp và trật tự, cùng khát vọng xây dựng một mô hình kinh tế mới cho nước Pháp cũng như khuyến khích một nền kinh tế tự do theo cung cách của AnhMỹ. Ông giữ chức Bộ trưởng Nội vụ cho đến ngày 26 tháng 3 năm 2007.
Theo thông tin trên tờ El Pais, Thủ tướng Nga Vladimir Putin_người có tầm ảnh hưởng lớn nhất thế giới cũng được coi là chính trị gia chuyên sử dụng những biện pháp độc đoán với phong cách lãnh đạo có thể so sánh với Thủ tướng Italia Silvio Berlusconi.
Hay như trường hợp của” vị vua sản xuất xe hơi Đưc”, Năm 1992, khi tập đoàn xe ôtô Volkswagen đang ở trong thời kỳ khó khăn nhất và có nguy cơ phá sản thì Ferdinand Piech xuất hiện. Với phong cách lãnh đạo độc đoán, kỷ luật và cống hiến hết mình, Ferdinand Piech đã vực lại Volkswagen để rồi trở thành nhà sản xuất ôtô lớn nhất châu Âu và đứng thứ ba trên thế giới hiện nay. Ít ai có thể ngờ rằng, chỉ chưa đầy 10 năm, từ năm 1993 tới 2000, dưới sự lãnh đạo của Ferdinand Piech, doanh thu của tập đoàn Volkswagen tăng vọt từ 76 tỉ mác Đức lên tới con số 167 tỉ, dòng sản phẩm tăng từ 28 lên tới 65 mẫu mã khác nhau, từ chỗ phải chịu thua lỗ mỗi năm 2 tỉ mác, công ty thu lại được lợi nhuận 4 tỉ mác.
Một trường hợp sử dụng thành công phong cách lãnh đạo này còn phải kể đến ông chủ tập đoàn APPLE là Stave Jobs với câu nói nổi tiếng: “ Dân chủ không tạo nên những sản phẩm tuyệt vời. Để làm được điều đó, anh cần 1 nhà độc tài thông thái.”
Bên cạnh những tên tuổi thành công với phong cách lãnh đạo độc tài, gia trưởng, cũng không ít người thất bại khi sử dụng phong cách này. Có thể kể đến như Tần Thủy Hoàng_vị Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc (vì ông đã có công tiêu diệt các nước chư hầu thời Chiến Quốc phân tán để thống nhất lập nên một đế quốc Trung Hoa rộng lớn). Tuy nhiên, ông cũng được xem là bạo chúa vì chính sách cai trị hà khắc và tàn bạo của mình. Tần Thủy Hoàng giữ ngôi từ năm 238 đến năm 210 trước Công nguyên; năm 246 TCN, lên ngôi, năm đó mới 13 tuổi và năm 238 TCN đích thân điều hành chính sự; ông dùng vũ lực thống nhất Trung Quốc và đã tiến hành một số cải cách có tính căn bản. Tần Thủy Hoàng cai trị một cách độc tài, không chú trọng đến nhân đức, ân nghĩa, trong một thời gian dài không tha tội cho ai, không để ý đến giáo hóa hoặc tuyên truyền cho dân thấu hiểu. Tần Thủy Hoàng tính bướng bỉnh, gàn dở tự đắc, muốn gì được nấy, tự cho rằng từ xưa đến nay không ai bằng mình, từng ra lệnh đốt kinh thi, kinh thư, sách vở trong vòng 30 ngày! Chôn sống 460 người ở Hàm Dương vì không cùng quan điểm. Tần Thủy Hoàng là nhà độc tài muốn đi ngược lại tạo hóa, sai người đi tìm thuốc để được trường sinh bất tử.
Chắc hẳn chúng ta vẫn còn nhớ đến sự cố của tập đoàn VINASHIN ở Việt Nam. nhiều năm liền Vinashin báo cáo không trung thực về sử dụng vốn, về đầu tư và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh. Năm 2009 tập đoàn lỗ 1.600 tỷ đồng, nhưng lại báo cáo lãi 750 tỷ đồng, quý 1 năm 2010 thua lỗ, vẫn báo cáo lãi gần 100 tỷ đồng. Đến tháng 6/2010, tổng số nợ của tập đoàn đã là 86 nghìn tỷ đồng. Đề cập khía cạnh này, Chính phủ cho rằng, mô hình tập đoàn đang triển khai thí điểm, nhưng ở Vinashin trong thời gian dài, tập trung các chức danh Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Tổng giám đốc vào một người. Những năm gần đây, người nắm nhiều quyền lực này đã “trở nên độc đoán, gia trưởng”. Trong khi đó, Đảng ủy, Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát, các phó tổng giám đốc yếu kém, không thực hiện được chức năng, nhiệm vụ được giao về lãnh đạo, quản lý, kiểm tra, giám sát, ngược lại còn đồng tình với những việc làm sai trái của người đứng đầu tập đoàn.Đó là nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của Vinashin.
C. Tổng kết và rút ra bài học:
Như vậy, một người quản lý có phong cách làm việc độc đoán sẽ điều hành với tư tưởng nhân viên phải làm những gì họ nói, hoàn thành công việc theo định hướng được các ông chủ vạch ra và đã được xác định bởi mong muốn của việc sản xuất. Các nhà quản lý độc tài thường gọi cho các nhà quản lý cấp dưới và đưa cho họ chỉ thị cũng như lời khuyên với tư tưởng nhân viên sẽ tuân theo. Họ cảm thấy nhân viên cần sự chỉ đạo nghiêm ngặt hơn, các biện pháp kiên quyết và quyết định mạnh mẽ hơn. Điều này tạo nên các kỹ năng quản lý. Phong cách quản lý này cho phép nhân viên biết những gì họ cần phải làm, họ sẽ làm như thế nào và lúc nào các nhiệm vụ phải hoàn thành.
Phong cách lãnh đạo này một mặt có khả năng thúc đẩy tổ chức phát triển, đạt hiệu quả cao trong công việc. Song đồng thời nó cũng có thể hủy diệt toàn bộ tổ chức. Vậy có nên áp dụng phong cách lãnh đạo này nữa không? Nhất là trong bối cảnh của xã hội Việt Nam đang trên đà hội nhập kinh tế quốc tế???...
Henrry Ford- một doanh nhân thành đạt với những câu nói nổi tiếng thế giới đã khẳng định: “ Bí quyết của sự thành công- nếu có- đó là khả năng tự đặt mình vào địa vị của người khác và xem xét sự vật vừa theo quan điểm của họ vừa theo quan điểm của mình”. Điều đó cũng đồng nghĩa là phải biết lắng nghe ý kiến của người khác trên cơ sở quan điểm chính kiến của mình. Đó mới là một nhà lãnh đạo thành công.
Chúng ta có thể thấy rằng, việc áp dụng một kiểu phong cách lãnh đạo nào đó trong hoạt động quản lý hay kinh doanh không đơn giản là áp dụng nguyên bản một kiểu phong cách nào đó. Trong thực tiễn, nó đòi hỏi người quản lý, lãnh đạo phải vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo để tìm ra kiểu phong cách lãnh đạo thích hợp, tuỳ vào những điều kiện, tình huống cụ thể của tổ chức, doanh nghiệp. Như vậy, áp dụng phong cách quản lý của những nhà lãnh đạo các tổ chức,doanh nghiệp Việt Nam trong hoạt động quản lý hay kinh doanh cũng phải tuân theo cách làm trên.
Theo chúng tôi thì một phong cách lãnh đạo phù hợp với các đặc điểm đặc thù của Việt Nam sẽ là phong cách lãnh đạo mà ở đó người lãnh đạo phải có tính quyết đoán thể hiện qua các phẩm chất dám nghe dám làm, dám chịu trách nhiệm, tự tin, ra được những quyết đính kịp thời trong những tình huống khó khăn. Bên cạnh đó, người lãnh đạo tạo ra được nhiều điều kiện thuận lợi để cấp dưới phát huy hết năng lực, trí lực, óc sáng tạo, lòng nhiệt tình vào công việc, có hệ thống chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật kịp thời, thích đáng nhằm động viên người lao động phát huy mọi tiềm năng, ổn định tinh thần và đảm bảo được cuộc sống.
Các luồng thông tin trong quản lý phải luôn được đảm bảo theo các kênh từ trên xuống dưới, từ cấp dưới lên trên. Đó cũng chính là sự kết hợp hài hòa của phong cách độc tài gia trưởng và phong cách lãnh đạo tự do, dân chủ, thích ứng với từng hoàn cảnh tình huồn quản lý cụ thể. Và một đặc điểm quan trọng trong phong cách quản lý này đó là phải tính tới những đặc điểm dân tộc, đạo đức, văn hoá của người Việt Nam.
Tóm lại,có thể nói rằng, một phong cách lãnh đạo tốt là một sản phẩm mang tính trí tuệ cao của người lãnh đạo, thể hiện sự nhuần nhuyễn trong cách sử dụng các phong cách lãnh đạo khác nhau vào các tình huống khác nhau, đồng thời phù hợp với các đặc điểm văn hóa Việt Nam. Chỉ có như thế tổ chức mới đạt được hiệu quả trong giải quyết công việc một cách cao nhất, phát huy được sức mạnh tập thể và tinh thần sáng tạo của nhân viên. Đúng như một câu danh ngôn đã nói:
“ Một nhà quản lý phải đồng thời là: Một viên đại tướng biết cách chỉ huy, một quan tòa biết cách xét xử, một nhà giáo dục khéo dạy dỗ, một nhà tâm lý biết cách khích lệ cổ vũ “.

The end