Để cụ thể hóa Luật cán bộ, công chức năm 2008 (Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 ngày 13/11/2008, có hiệu lực vào ngày 01/01/2010), Chính phủ đã ban hành Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009, thay thế Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003, có rất nhiều điểm mới cần quan tâm sau đây:

1. Về tên gọi của Nghị định: So với tên gọi của Nghị định 121/2003/NĐ-CP thì tên gọi của Nghị định này dài hơn, nhưng cụ thể hơn, Nghị định 92 không chỉ quy định về chế độ chính sách đối với cán bộ cấp xã mà còn quy định chức danh cán bộ, công chức cấp xã, những người hoạt động không chuyên trách cấp xã.

2. Về chức vụ, chức danh: Chức danh cán bộ, công chức cấp xã theo đúng tên gọi như Luật cán bộ, công chức gồm 11 chức vụ cán bộ bầu cử (Bí thư, phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, phó Chủ tịch UBND; Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam; Chủ tịch Hội CCB Việt Nam) và 7 chức danh công chức chuyên môn (Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - Thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị - môi trường; Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội ). Không quy định các chức vụ: Bí thư, phó bí thư chi bộ (nơi chưa thành lập Đảng ủy cấp xã; thường trực đảng ủy (nơi không có phó bí thư chuyên trách công tác đảng) là cán bộ cấp xã.

3. Về số lượng cán bộ, công chức: Được quy định cụ thể hơn, trước đây quy định tùy theo số dân của cấp xã, đồng bằng, đô thị hay miền núi, thấp nhất là 17 người, cao nhất là 25 người. Nay quy định: Cấp xã loại 1 không quá 25 người; cấp xã loại 2 không quá 23 người; cấp xã loại 3 không quá 21 người (Nghị định 159/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về việc phân loại đơn vị hành chính cấp xã). Quy định này vừa giúp cho cơ sở tự chủ trong việc bố trí cán bộ, công chức, vừa tạo điều kiện cho một số chức danh có điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm xã hội. Theo Nghị định 92, hiện nay có 2 chức danh được bố trí 2 người: Chức danh công chức địa chính - xây dựng - môi trường (đối với xã) và chức danh văn hóa - xã hội.

4. Về chế độ tiền lương.

Về cán bộ cấp xã có 2 hệ thống tiền lương. Thứ nhất: Cán bộ bầu cử nếu có bằng cấp chuyên môn từ trung cấp trở lên và công chức chuyên môn được thực hiện xếp lương như công chức hành chính, được nâng bậc theo niên hạn (Nghị định số 204/ 2004/ NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang), cán bộ bầu cử có bằng cấp còn được cộng thêm phụ cấp chức vụ lãnh đạo (Bí thư Đảng ủy: 0,30; phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND: 0,25; Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND: 0,20…). Thứ 2, cán bộ bầu cử nếu chưa có bằng cấp chuyên môn thì hưởng lương theo bản lương chức vụ, được nâng bậc lương theo nhiệm kỳ bầu cử, không được cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo (ví dụ: Bí thư Đảng ủy: Bậc 1 là 2,35, bậc 2 là 2,85; Chủ tịch UBND bậc 1 là 2,15, bậc 2 là 2,65…).

Về quy định đối với công cức cấp xã: Công chức cấp xã tốt nghiệp trình độ đào tạo từ sơ cấp trở lên, phù hợp với chuyên môn của chức danh đảm nhiệm, thì thực hiện xếp lương như công chức hành chính. Nếu chưa tốt nghiệp đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định thì được hưởng lương bằng 1,18 so với lương tối thiểu.
Thời gian tập sự của công chức cấp xã được quy định phù hợp hơn: 12 tháng đối với công chức được xếp lương ngạch chuyên viên và tương đương; 6 tháng đối với công chức được lương xếp ngạch cán sự và tương đương; 3 tháng đối với công chức dược xếp lương ngạch nhân viên và tương đương. Trong thời gian tập sự được hưởng 85% bậc lương khởi điểm theo trình độ đào tạo chuyên môn được tuyển dụng. Trường hợp có học vị thạc sĩ phù hợp với yêu cầu tuyển dụng thì được hưởng 85% lương bậc 2 của ngạch chuyên viên và tương đương; công chức cấp xã vùng cao, biên giới, hải đảo thời gian tập sự được hưởng 100% bậc lương khởi điểm theo trình độ đào tạo. Thời gian tập sự không được tính vào thời gian để xét nâng bậc lương theo niên hạn.

5. Các loại phụ cấp khác: Phụ cấp thâm niên vượt khung; phụ cấp chức vụ lãnh đạo; phụ cấp theo loại xã (Cán bộ cấp xã loại 1 hưởng phụ cấp 10%, cán bộ cấp xã loại 2 hưởng phụ cấp 5% - tỷ lệ % được tính trên mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung và hệ số chênh lệch bảo lưu ); phụ cấp kiêm nhiệm chức danh (bằng 20% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãng đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung).
- Về chế độ bảo hiểm xã hội: Điểm mới là cán bộ công chức cấp xã đã hêt tuổi lao động, có đủ 15 đến dưới 20 năm dóng bảo hiểm xã hội, nếu có nhu cầu thì được tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Cán bộ công chức cấp xã là người đang hưởng chế độ thương binh các hạng, bệnh binh các hạng mà không thuộc đối tượng hưởng chế độ hưu trí hoặc trợ cấp mất sức lao động được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

6. Về cán bộ không chuyên trách: Đổi tên gọi: “Cán bộ không chuyên trách” thành tên gọi: “Những người hoạt động không chuyên trách”. Số lượng cũng được quy định cụ thể hơn: Cấp xã loại 1 không quá 22 người; cấp xã loại 2 không quá 20 người; cấp xã loại 3 không quá 19 người. Mức phụ cấp do HĐND tỉnh quy định nhưng cao nhất không quá 1,0 so với lương tối thiểu do chính phủ quy định, ngân sách trung ương chi trả 2/3 cho các đối tượng trên. Chế độ học tập, bồi dưỡng, đào tạo như cán bộ,công chức khác (Được cung cấp tài liệu học tập, được hỗ trợ 1 phần tiền ăn trong thời gian đi học tập trung, được hỗ trợ chi phí đi lại từ cơ quan đến nơi học tập).