1. Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư xây dựng là một lĩnh vực quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Muốn đầu tư xây dựng có hiệu quả thì công tác quản lý có vai trò quyết định. Vì vậy, từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác quản lý đầu tư xây dựng. Tại Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng đã quán triệt: Xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, điện lực, thông tin, thuỷ lợi, cấp thoát nước... Không tập trung quá nhiều cơ sở công nghiệp và dân cư vào các đô thị lớn... Tăng cường công tác quy hoạch và quản lý đô thị, nâng cao thẩm mỹ kiến trúc... [63, tr.94].

Trong nhiều năm qua, Nhà nước đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động đầu tư xây dựng, trong đó rất chú trọng việc nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước về lĩnh vực này. Theo đó, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng ngày càng được hoàn thiện, có tính khả thi cao, điều chỉnh khá toàn diện hoạt động đầu tư xây dựng; hệ thống tổ chức quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư xây dựng cũng từng bước được kiện toàn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động đầu tư xây dựng, đặc biệt là đầu tư xây dựng tại các đô thị trong đó có Thủ đô Hà Nội.

Nhìn chung, các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã chấp hành tốt hơn các quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng, tình hình đầu tư xây dựng ngày càng phát triển mạnh mẽ, bên cạnh các nguồn lực của nhà nước, đã huy động được nguồn lực to lớn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho hoạt động đầu tư xây dựng; hạ tầng đô thị, đặc biệt là hạ tầng kỹ thuật đô thị; cảnh quan, kiến trúc ngày càng được bảo đảm, thể hiện ngày càng rõ nét bản sắc Việt Nam.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật về đầu tư xây dựng một số bất cập như:
- Các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng hiện hành vừa thiếu, vừa chồng chéo, mâu thuẫn; nhiều văn bản đã lỗi thời lạc hậu, bất cập trong thực tế. Tình trạng thiếu thống nhất, không bảo đảm đồng bộ của các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư­ xây dựng gây ảnh hưởng không nhỏ trong quá trình quản lý và thực hiện đầu tư­ xây dựng của đất nư­ớc.

- Cùng với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế Việt Nam có sự thay đổi nhanh, mạnh, tăng trưởng không ngừng về mọi mặt. Điều này dẫn đến quản lý nhà nước bằng pháp luật nói chung và quản lý nhà nước bằng pháp luật về đầu tư xây dựng nói riêng không theo kịp với nhu cầu cũng như tốc độ phát triển của xã hội.
- Việc phân cấp quản lý, phân công nhiệm vụ, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan đến hoạt động đầu tư xây dựng còn chưa hợp lý, chưa phù hợp với năng lực, trình độ, chưa rõ trách nhiệm, nhiều đầu mối, nhiều ngành tham gia.

Hà Nội “là trái tim của cả nước, đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế” [1]. Diện mạo của Thủ đô Hà Nội là bộ mặt đại diện cho cả đất nước, là danh dự của quốc gia, một Thủ đô văn minh, hiện đại không chỉ là niềm tự hào của người dân Thủ đô mà còn là niềm tự hào của toàn dân tộc Việt Nam.

Tuy nhiên, Hà Nội hiện nay đang đứng trước nhiều khó khăn và thách thức do áp lực ngày càng tăng của việc phát triển đô thị, dân số, việc đầu tư xây dựng các công trình với nhiều quy mô, tính chất khác nhau... Quy hoạch xây dựng còn thiếu, tình trạng xây dựng không phép vẫn tồn tại, thủ tục đầu tư còn rườm rà, ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân Thủ đô còn thấp. Tình trạng vi phạm pháp luật về đầu tư xây dựng ngày càng nghiêm trọng và phức tạp, phá vỡ quy hoạch - kiến trúc của Thủ đô, gây mất thẩm mỹ cho diện mạo và mỹ quan đô thị.

Đặc biệt, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá XII đã thông qua Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH12 về việc điều chỉnh địa giới hành chính Thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan. Theo đó, ngoài những vấn đề bất cập cần được giải quyết nêu trên, vấn đề quy hoạch xây dựng của Thủ đô Hà Nội mở rộng, hợp nhất bộ máy hành chính, ban hành các văn bản quản lý chung đối với công tác quản lý đầu tư xây dựng trên địa bàn Thành phố... là những nhiệm vụ trọng tâm của chính quyền Thành phố Hà Nội hiện nay.

Để thúc đẩy phát triển kinh tế đất nư­ớc tr­ước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế có nhiều sức ép và thách thức nh­ư hiện nay công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật về đầu tư xây dựng trên cả nước nói chung và Thủ đô Hà Nội nói riêng là yêu cầu cấp thiết. Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài: "Quản lý nhà nước bằng pháp luật về đầu tư xây dựng ở Thành phố Hà Nội".

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu các tài liệu hiện hành cho thấy hiện nay có một số công trình nghiên cứu khoa học liên quan tới đề tài luận văn. Trong đó, có một số công trình tiêu biểu như:
- Bộ Xây dựng (2003): "Điều tra, khảo sát thực trạng hệ thống và hiệu quả các văn bản quy phạm pháp luật trong hoạt động xây dựng. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế", Dự án sự nghiệp kinh tế của Bộ Xây dựng, biên bản nghiệm thu ngày 18/12/2005;
- Bộ Xây dựng (2005): "Điều tra, khảo sát tình hình thực hiện pháp luật xây dựng ở địa phương. Đề xuất các biện pháp phổ biến, tuyên truyền giáo dục pháp luật để đạt hiệu quả", Dự án sự nghiệp kinh tế của Bộ Xây dựng, biên bản nghiệm thu 20/3/2006;
- Bộ Xây dựng (2007): "Khảo sát, đánh giá thực trạng, hệ thống hoá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về quản lý đầu tư xây dựng và các văn bản có liên quan; phát hiện kịp thời và đề xuất biện pháp xử lý những vấn đề trùng lắp, mâu thuẫn và bất cập nhằm xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng đồng bộ", Dự án sự nghiệp kinh tế của Bộ Xây dựng, biên bản nghiệm thu ngày 22/1/2008;
- Nguyễn Huy Thường (2007): “Hoàn thiện quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sĩ luật học;
- Ma Thị Luận (2008): “Văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng: thực trạng và giải pháp”, Luận văn thạc sĩ luật học;
- Lê Thanh Liêm (2005): "Quản lý nhà nước về xây dựng đô thị trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp", Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý;
- Một số bài viết của các chuyên gia xây dựng trong các tạp chí chuyên ngành xây dựng như:
+ Dương Văn Cận (2006): "Đổi mới cơ chế quản lý chi phí trong đầu tư xây dựng công trình - một bước tất yếu trong quá trình hội nhập", Tạp chí Kinh tế Xây dựng số 6/2006;
+ Chu Văn Chung (2002): “Thực hiện phương thức tổng thầu EPC là bước tạo đà cho doanh nghiệp vươn lên làm chủ thị trường đầu tư xây dựng”, Tạp chí Xây dựng số 1/2002;
+ Lê Đình Tri (2007): “Quy chế quản lý kiến trúc đô thị: Công cụ hữu hiệu của chính quyền đô thị”, Tạp chí Xây dựng số 10/2007;
+ Nguyễn Mạnh Thu (2006): “Thiết kế các đô thị mới ở Hà Nội”, Tạp chí Kiến trúc số 6/2006;
+ Hoàng Thọ Vinh (2006): “Quy chế khu đô thị mới: Cơ sở pháp lý cho việc hình thành, phát triển và quản lý các dự án khu đô thị mới”, Tạp chí Xây dựng số 3/2006;
+ Nguyễn Phú Đức (2007): “Nghĩ về kiến trúc Thủ đô Hà Nội 20 năm sau đổi mới”, Tạp chí Xây dựng số 2/2007;
+ Nguyễn Hồng Tiến (2007): “Hạ tầng kỹ thuật đô thị năm 2006: Những chuyển biến và thách thức”, Tạp chí Xây dựng số 02/2007;
+ Nguyễn Tôn (2003): “Cấp nước đô thị - Thành tựu và thách thức”, Tạp chí Xây dựng số 1/2003.
Trong tất cả các nghiên cứu trên thì Dự án sự nghiệp kinh tế của Bộ Xây dựng "Điều tra, khảo sát thực trạng hệ thống và hiệu quả các văn bản quy phạm pháp luật trong hoạt động xây dựng. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế" năm 2003 là một nghiên cứu có giá trị, thành công nhất từ trước đến nay. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở lý luận và thực tiễn để soạn thảo, ban hành Luật Xây dựng năm 2003.
Các nghiên cứu trên, tuy đã đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước bằng pháp luật về đầu tư xây dựng, một số nghiên cứu đã có giá trị nhất định trong việc hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng nhưng mới chỉ tập trung vào một vấn đề trong quản lý đầu tư xây dựng, nghiên cứu chung về quản lý đầu tư xây dựng hoặc mới chỉ nghiên cứu dưới góc độ quản lý kinh tế. Đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp đến vấn đề “Quản lý nhà nước bằng pháp luật về đầu tư xây dựng ở Thành phố Hà Nội”. Mặc dù vậy, các công trình khoa học đã được công bố là những tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu và viết luận văn này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước bằng pháp luật về đầu tư xây dựng, luận văn đề xuất các giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước bằng pháp luật về đầu tư xây dựng ở Thành phố Hà Nội hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước bằng pháp luật về đầu tư xây dựng;
- Chỉ ra những đặc điểm và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật về đầu tư xây dựng ở Thành phố Hà Nội;
- Đề xuất phương hướng, giải pháp bảo đảm quản lý nhà bằng pháp luật về đầu tư xây dựng ở Thành phố Hà Nội hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Quản lý nhà nước bằng pháp luật về đầu tư xây dựng có nội dung rất lớn, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực như: tài nguyên, môi trường, phòng cháy, chữa cháy, an ninh, quốc phòng, đầu tư, xây dựng, giao thông, công nghiệp,... Do thời gian, yêu cầu và nội dung của một luận văn thạc sĩ bị giới hạn nên luận văn này chỉ tập trung vào đối tượng và phạm vi nghiên cứu sau:
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận quản lý nhà nước bằng pháp luật về đầu tư xây dựng và thực tiễn quản lý nhà nước bằng pháp luật về đầu tư xây dựng ở Thành phố Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về quản lý quy hoạch xây dựng; quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình ở Thành phố Hà Nội từ năm 2005 đến năm 2008.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật nói chung, các quan điểm chỉ đạo của Đảng cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật thời kỳ đổi mới nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được nghiên cứu và hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử mác xít.
- Các phương pháp cụ thể: Phương pháp logic, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh...
6. Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu tương đối hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước bằng pháp luật về đầu tư xây dựng ở Thành phố Hà Nội.
- Các giải pháp trong luận văn đóng góp vào công tác hoàn thiện pháp luật về đầu tư xây dựng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ngành xây dựng.
7. Ý nghĩa của luận văn
- Kết quả nghiên cứu có thể là tài liệu tham khảo cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở trung ương, địa phương nói chung và Thành phố Hà Nội nói riêng.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 11 tiết.
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước bằng pháp luật về đầu tư xây dựng
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật về đầu tư xây dựng ở Thành phố Hà Nội
Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước bằng pháp luật về đầu tư xây dựng ở Thành phố Hà Nội