PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG:
MỘT LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN TRONG THẾ GIỚI ĐƯƠNG ĐẠI

GS. TS NGUYỄN VĂN HUYÊN
1. Chính trị là lĩnh vực hoạt động rộng lớn và đặc thù, có tính quyết định đối với tiến trình phát triển của xã hội; được hình thành và phát triển từ đòi hỏi giải quyết những vấn đề lớn lao, như xây dựng nhà nước, đấu tranh giai cấp, tạo dựng các thể chế chính trị, tổ chức nhà nước hoạt động, xây dựng chiến lược quốc gia,... nhằm thực hiện lý tưởng, mục tiêu, khát vọng, ý chí vì lợi ích của giai cấp, của nhà nước, của quốc gia, dân tộc.

Trong lịch sử chính trị, ở từng thời kỳ và tình huống nhất định, có những chủ thể, những thể chế chính trị đi trái với xu hướng và quy luật phát triển của xã hội hoặc những yêu cầu chính đáng, khách quan của con người, của nhân dân. Nhưng nhìn chung, chính trị luôn đi theo hướng phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chân chính của nhân dân, của dân tộc. Chính trị - thể chế chính trị, chủ thể cầm quyền - luôn phải làm theo sứ mệnh trọng đại mà nhân dân giao phó, đó là đấu tranh và phấn đấu cho lợi ích dân tộc, cho sự phát triển đất nước và cho tương lai của quốc gia.
Như vậy, chính trị với tư cách một phạm trù phổ quát, là lĩnh vực hoạt động chủ đạo quyết định hướng đi của xã hội, luôn mang sứ mệnh lớn lao, đem lại sự phát triển và tiến bộ không ngừng cho xã hội, cho con người, cho loài người, làm cho đời sống quốc gia, quốc tế ngày càng văn minh, đúng với bản chất và khát vọng nhân đạo, nhân văn của loài người. Chính trị với bản chất như vậy, thực chất là chính trị phát triển mang bản chất nhân đạo, nhân văn, tiến bộ; nó phản đối, chống lại chính trị phản nhân đạo, phản nhân văn và phản tiến bộ.
Để thực hiện được mục đích của mình, chính trị phát triển luôn xây dựng những lý thuyết chính trị làm cơ sở lý luận, định hướng cho nội dung xây dựng xã hội, bảo đảm sự phát triển và tiến bộ của một thể chế chính trị. Mỗi một sự thay đổi trong lý thuyết đó sẽ dẫn tới sự thay đổi chiều hướng vận động và phát triển của toàn xã hội. Cho nên, lý thuyết chính trị phát triển phải là lý thuyết chính trị chân chính. Ở đó, mục tiêu chính trị phải phù hợp với lý tưởng nhân đạo, nhân văn, đáp ứng khát vọng và lợi ích chân chính của con người; giải phóng sự nô lệ, giải phóng áp bức, bóc lột, giải phóng xã hội và giải phóng con người; đấu tranh và phấn đấu cho quyền làm chủ của con người trên các phương diện: làm chủ chế độ xã hội, làm chủ sự nghiệp xây dựng cuộc sống và mưu cầu hạnh phúc của nhân dân; phấn đấu cho quyền bình đẳng của con người, quyền bình đẳng xã hội và bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc; phấn đấu cho sự phát triển và tiến bộ của công dân, của con người, của quốc gia, quốc tế; hướng tới và phấn đấu cho hoà bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển giữa các quốc gia, dân tộc và của toàn nhân loại.
2. Đường lối, nội dung và phương thức thực thi chính trị phải khoa học, phù hợp với lý tưởng, mục tiêu, lợi ích, điều kiện chủ quan và khách quan của quốc gia, dân tộc. Lý thuyết chính trị phát triển cũng thể hiện ở hệ thống chính sách, kế hoạch, các cơ chế và điều kiện thực thi đúng mục đích, hiệu quả cao đường lối chính trị của chủ thể chính trị. Lý thuyết chính trị phát triển luôn là nền tảng khoa học, cơ sở lý luận cho việc hoạch định chính sách kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, an ninh, quốc phòng, v.v... Một lý thuyết chính trị đúng đắn, khoa học, hợp lý sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển xã hội; nếu ngược lại, nó kìm hãm, thậm chí thủ tiêu sức mạnh chính trị, đẩy lùi bước tiến bộ và phát triển.
Trong lịch sử chính trị, loài người đã xây dựng nhiều lý thuyết chính trị phát triển. Thực tế cho thấy, các lý thuyết chính trị phát triển ngày càng có nội dung tiến gần tới lý tưởng chính trị - xã hội nhân đạo và nhân văn, nghĩa là ngày càng đáp ứng cao hơn khát vọng của con người, vì vậy, chúng ngày càng được điều chỉnh, bổ sung đầy đủ và hoàn thiện hơn.
Mỗi quốc gia, từ điều kiện đặc thù, với các cách nhìn và cách tiếp cận khác nhau, đó vạch ra con đường và những chiến lược phát triển riêng để đưa đất nước mình đi lên với các mức độ khác nhau. Có những quốc gia phát triển rất nhanh, nhưng đồng thời cũng lại phải gánh chịu nhiều hậu quả tai hại khác, do mặt trái của con đường và chiến lược phát triển ấy đem lại.
Trong lịch sử, những khủng hoảng về mô hình phát triển xã hội diễn ra và lan truyền theo dạng sóng ở mọi khu vực trên khắp hành tinh, nhất là từ giữa những năm 80 đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Điều đó đó cảnh tỉnh các lý thuyết chính trị phát triển có tính thiên lệch và cực đoan. Nhiều quốc gia phải xem xét lại mô hình phát triển của mình và phải nghĩ đến việc tập hợp lại với nhau để tìm cách đổi mới mô hình phát triển đất nước phù hợp với quy luật và thực tế thế giới mới theo hướng bền vững.
Sai lầm lớn dẫn đến những khủng hoảng trầm trọng không thể cứu vãn được, kể cả ở các nước phát triển cao, là ở chỗ người ta coi phát triển đơn thuần chỉ là phát triển kinh tế. Mô hình phát triển tuyệt đối hoá kinh tế đó đưa tới sự sùng bái và tuyệt đối hoá kỹ thuật, coi kỹ thuật là trên hết và dẫn tới chủ nghĩa kỹ trị. Lý thuyết kỹ trị trong phát triển đó thúc đẩy trình độ sống của con người lên rất cao. Tuy nhiên, nó lại có mặt trái là gạt con người ra ngoài lề của chính mục tiêu phát triển chân chính. Người ta coi kỹ thuật, công nghệ là sức mạnh chi phối toàn bộ đời sống, dẫn đến con người chỉ còn là cái máy không hồn. Sự tuyệt đối hoá vật chất của xã hội tiêu thụ thực tế đó tạo ra ý thức xem thường và hạ thấp giá trị nhân văn, làm nghèo nàn đời sống tình cảm, tồi tệ hơn là làm suy thoái đạo đức. Như thế, phát triển theo nghĩa chân chính là thực hiện lý tưởng nhân văn mà loài người hằng vươn tới, cuối cùng lại bị chính nỗ lực phát triển sai lầm phản lại!
Lý thuyết hiện đại hoá theo hướng phương Tây hoá đã đề cập tới khá toàn diện các yếu tố và các giai đoạn chuyển hoá của phát triển xã hội: đưa xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại; giai đoạn cất cánh tạo nên chất xã hội mới; trong giai đoạn xã hội tiêu dựng, lực lượng sản xuất, trình độ khoa học - công nghệ, khả năng sáng tạo của con người rất cao, v.v... Nhưng lý thuyết phát triển này lại tuyệt đối hoá văn minh phương Tây, không tính tới các yếu tố văn hoá của các vùng và các dân tộc khác. Hơn nữa, lý thuyết này cũng khai thác quá sức chịu đựng của tài nguyên, môi trường.
Các lý thuyết phát triển tuyệt đối hoá vật chất, kỹ thuật, hiện đại hoá,... thực tế đó vắt kiệt nguồn lực của tự nhiên. Người ta ngày càng thấm thía rằng, các lý thuyết phát triển đó dường như đang gặm sâu vào tận xương tuỷ của cơ thể tự nhiên, làm cho tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, môi trường sống ngày càng bị ô nhiễm, sinh thái vốn cân bằng đang dần bị phá vỡ, v.v.. Sự hài hoà thiên nhiên - con người như là nền tảng tất yếu của sự phát triển đang bị chính bàn tay con người lũng đoạn. Người ta chợt tỉnh ngộ ra rằng, sự tăng trưởng hiện tại đang là sự tăng trưởng xấu. Thực tế, những gì con người làm được không phải là sự phát triển mà đó chỉ là những cái con người hiện tại đang "vay mượn" những phần chính yếu của tương lai, "lấy tương lai để duy trì hiện tại"!
Vậy là, sự phát triển chỉ có được trong một tổng thể đầy đủ các bộ phận cần thiết, trong một chỉnh thể cân đối và hài hoà. Thế giới chỉ phát triển được trong tổ hợp nhiều yếu tố vận hành một cách năng động và nhịp nhàng. Chính bản chất đó, trạng thái đó tạo nên nội lực sâu xa và căn bản của phát triển, mà thiếu nó, thì cái mà chúng ta gọi là phát triển cũng chỉ là những vay mượn tạm thời. Một xã hội với tư cách một bộ phận của tự nhiên muốn phát triển được cũng không thể chỉ phát triển kinh tế, phát triển kỹ thuật, không chỉ thoả món các nhu cầu về vật chất và tiện nghi.
Sự phát triển của một quốc gia, một xã hội chỉ có được trên cơ sở xác lập được một lý thuyết phát triển thật sự khoa học. Lý thuyết chính trị phát triển bền vững có tính khoa học phải dựa trên nguyên lý và quy luật phát triển phổ biến của giới tự nhiên nói chung và của xã hội loài người nói riêng, với sự tính toán một cách khoa học, có sự kết hợp đúng đắn các yếu tố, các điều kiện, các khả năng và cả các thời cơ,… Tuyệt đối hoá hay xem nhẹ mặt nào trong tổng thể đó thì tai họa chắc chắn sẽ xảy ra.
3. Một trong những lý thuyết chính trị phát triển hợp lý hiện nay là lý thuyết phát triển bền vững. Năm 1987, Ủy ban quốc tế về môi trường và phát triển công bố Báo cáo "Tương lai chung của chúng ta", trong đó đã chính thức sử dụng thuật ngữ "phát triển bền vững", đưa ra cách nhìn mới về việc hoạch định các chiến lược phát triển lâu bền. Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển bền vững họp tại Rio de Janeiro tháng 6 - 1992 với sự tham gia của 179 quốc gia đã thông qua chiến lược phát triển bền vững và khẳng định: “Phát triển bền vững là phát triển kinh tế - xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bền vững môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của con người hiện nay và không ảnh hưởng bất lợi đối với các thế hệ tương lai trong việc tháa món nhu cầu của họ”. Hội nghị đã gửi thông điệp tới chính phủ các nước về sự cấp bách của việc đẩy mạnh sự phát triển hài hoà: kinh tế - xã hội - môi trường. Hội nghị đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động một chương trình hành động vì sự phát triển bền vững lấy tên là Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21). Từ Hội nghị này, nội hàm phát triển bền vững không ngừng được bổ sung với phương pháp tư duy và cách tiếp cận mới, hệ thống, toàn diện, sâu rộng, có tầm nhìn xa hơn. Phát triển bền vững ít nhất bao gồm 3 yếu tố: kinh tế (thị trường, tăng trưởng, công nghiệp hoá...); xã hội (nhà nước, xã hội công dân, ý thức cộng đồng, hệ thống giá trị...); môi trường (khai thác hợp lý và bảo vệ tài nguyên, môi trường).
Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển bền vững họp tại Johannesburg, Cộng hoà Nam Phi năm 2002 với sự tham gia của các nhà lãnh đạo và các chuyên gia kinh tế, xã hội, môi trường của gần 200 quốc gia đã tổng kết hoạt động phát triển bền vững 10 năm (Rio+10) và đưa ra những quyết sách về nước, năng lượng, sức khoẻ, nông nghiệp, sự đa dạng sinh thái; tiếp tục tiến hành một số mục tiêu ưu tiên về xoá đói giảm nghèo, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môi trường nhằm thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Qua các bản tuyên bố, nội hàm phát triển bền vững ngày càng được mở rộng thêm: sự phát triển bao gồm toàn diện các vấn đề sinh thái, các vấn đề xã hội, các vấn đề con người, các vấn đề văn hoá, chất lượng sống; nó hàm chứa cả sự bình đẳng giữa các nước giàu và nghèo, giữa các thế hệ; nó cũng bao hàm cả sự cần thiết phải giải trừ quân bị như là điều kiện tiên quyết giải phóng nguồn tài chính cần thiết cho phát triển.
4.Lý thuyết phát triển bền vững được Việt Nam tiếp nhận từ những năm cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ trước. Nhận thấy những hạn chế, bất cập, khiếm khuyết trầm trọng trong các lý thuyết phát triển trước đây trên thế giới, Đảng và Chính phủ Việt Nam hưởng ứng một cách mạnh mẽ những tư tưởng, các chương trình phát triển bền vững của Liên hợp quốc và xây dựng Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam. Phát triển bền vững đã trở thành một trong những tư tưởng chủ đạo trong chính sách phát triển của Việt Nam.
Tháng 8-2004, Thủ tưởng chính phủ ra quyết định số 153/2004/QĐ - TTg ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, nhằm phát triển bền vững đất nước trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội, phát triển văn hoá, phát triển con người, bảo vệ môi trường. Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam nêu lên những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt, đề ra những chủ trương, chính sách, công cụ pháp luật và những lĩnh vực hoạt động ưu tiên cần được thực hiện để phát triển bền vững trong thế kỷ XXI. Đây cũng là một chiến lược khung bao gồm những định hướng lớn, làm cơ sở pháp lý để các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân có liên quan triển khai thực hiện và phối hợp hành động, nhằm bảo đảm phát triển bền vững đất nước, đồng thời thể hiện sự cam kết của Việt Nam với quốc tế. Trong định hướng triển khai thực hiện, Việt Nam không ngừng bổ sung và phát triển để Định hướng chiến lược phát triển bền vững phù hợp với từng giai đoạn phát triển, cập nhật tri thức và tư tưởng mới, đổi mới tư duy, hoàn thiện chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam. Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam tập trung những hoạt động ưu tiên cần được lựa chọn và thực hiện trong 10 năm tới, bao gồm: những lĩnh vực kinh tế; những lĩnh vực xã hội; những lĩnh vực sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và kiểm soát ô nhiễm.
Chủ trương và mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam được thể hiện rừ trong các Văn kiện đại hội của Đảng và trong các chương trình hành động của Chính phủ. Phương châm phát triển đất nước trong những năm gần đây là chủ động kết hợp giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với mục tiêu công bằng và tiến bộ xã hội; phát triển con người và bảo vệ môi trường; phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Văn kiện Đại hội X của Đảng viết: "Phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững… Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói giảm nghèo. Từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng. Phải rất coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển. Phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, coi đây là tiền đề, điều kiện để phát triển nhanh và bền vững"(1).
Để thực hiện thành công mục tiêu phát triển bền vững, Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam đề ra 8 nguyên tắc, trong đó 5 nguyên tắc quan trọng:
Một là, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là mục tiêu và cũng là nguyên tắc nhất quán trong mọi giai đoạn phát triển; lấy con người làm trung tâm của phát triển bền vững; đáp ứng ngày càng cao và đầy đủ hơn các nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân.
Hai là, phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng để phát triển bền vững, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà với phát triển xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường bền vững; từng bước thực hiện nguyên tắc "mọi mặt kinh tế, xã hội, môi trường đều cùng có lợi".
Ba là, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi là một yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển. Nghiêm túc áp dụng rộng rãi nguyên tắc: người gây thiệt hại đối với tài nguyên và môi trường thì phải bồi hoàn, coi yêu cầu bảo vệ môi trường là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá về phát triển bền vững.
Bốn là, quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai. Tạo lập điều kiện để mọi người và cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng để phát triển, được tiếp cận với những nguồn lực chung và được phân phối công bằng lợi ích công cộng, tạo ra nền tảng vật chất, tri thức và văn hoá tốt đẹp cho các thế hệ mai sau, sử dụng tiết kiệm những tài nguyên không thể tái tạo, phát triển hệ thống sản xuất sạch và thân thiện với môi trường.
Năm là, khoa học và công nghệ được phát triển như là nền tảng và động lực cho công nghiệp hoá và hiện đại hoá, thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh và bền vững đất nước; đồng thời, sự phát triển khoa học - công nghệ là sự thể hiện trình độ phát triển của xã hội.
Những nhóm vấn đề cơ bản cần ưu tiên cho phát triển của Việt Nam hiện nay và trong những năm tới là:
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân; chế độ xã hội do nhân dân làm chủ; tự do mưu cầu hạnh phúc vì sự phát triển của xã hội và của gia đình, cá nhân; hoàn thiện pháp luật, thể chế, hệ thống văn bản quy phạm, bảo đảm tự do hoạt động kinh tế - xã hội; đặc biệt là hoàn thiện hệ thống luật và thế chế kinh tế phù hợp với thông lệ quốc tế.
Thứ hai, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập với hội nhập sâu vào kinh tế quốc tế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hướng trọng tâm vào xây dựng kinh tế tri thức, trước hết là các lĩnh vực có lợi thế so sánh của Việt Nam; phát triển đồng bộ các yếu tố kinh tế thị trường; xây dựng các thị trường: sức lao động, đất đai, bất động sản, tài chính - tiền tệ, khoa học - công nghệ, thị trường trí tuệ, v.v..
Thứ ba, giữ vững và phát triển chế độ xã hội chủ nghĩa, xã hội phát triển hài hoà vật chất - tinh thần, con người - thiên nhiên, hiện tại - tương lai, quốc gia - quốc tế; phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhằm phát huy sức mạnh toàn dân cho sự phát triển xã hội, phát triển con người, phát triển nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Thứ tư, tìm khâu đột phá để phát triển tăng tốc và phát triển rút ngắn: đi tắt đón đầu, phát triển khoa học - công nghệ mới, công nghệ đỉnh cao, phù hợp với Việt Nam; phát huy các ngành nghề truyền thống có đặc thù và bản sắc Việt Nam và tận dụng đặc điểm con người Việt Nam (thông minh, sáng tạo, tiếp thu nhanh cái mới) và những điều kiện tự nhiên, văn hoá dân tộc đặc sắc cho những đột phá(2).
Thứ năm, đổi mới và nâng cao hiệu quả đầu tư, đa dạng hoá các nguồn vốn và hình thức đầu tư; tạo cơ chế đặc biệt để thu hút mạnh các nguồn đầu tư nước ngoài có năng lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm xây dựng kết cấu hạ tầng, giao thông, năng lượng. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành mũi nhọn có ưu thế của Việt Nam, của các doanh nghiệp. Tìm khâu đột phá để phát triển du lịch, dịch vụ trong lợi thế đặc điểm của đất nước.
Thứ sáu, tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực theo hướng thoả mãn nhanh lực lượng phát triển công nghệ cao, thực hiện phát triển tăng tốc và rút ngắn. Phát triển nông nghiệp - nông thôn - nông dân theo hướng hiện đại. Giải quyết tốt những vấn đề an sinh xã hội. Bảo vệ và nuôi dưỡng môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội. Bảo vệ và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc.
Thứ bảy, bảo đảm an ninh, quốc phòng, bảo vệ vững chắc nền độc lập, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.

(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.178-179.
(2) Theo GS P.Krugman thì Việt Nam tham gia thị trường thế giới khi mức độ chuyên môn hoá ngày càng cao, nên có thể tận dụng cơ hội để đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập cho người lao động; Việt Nam có thể đi nhanh hơn các nước đã đi trước nếu biết lựa chọn tạo ra được những sản phẩm tinh xảo hơn, có giá trị gia tăng cao hơn (Nhân Dân cuối tuần, số 23, ngày 7-6- 2009).


Viện Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.