1. Tìm hiểu và trình bày ít nhất 2 thủ tục hành chính cụ thể
2. Trình bày vấn đề đơn giản hoá thủ tục hành chính hiện nay
3.trình bày nhận thức về mô hình 1 cửa họăc 1 cửa liên thông
Bài làm
Câu 1. Hai thủ tục hành chính cụ thể:
o Thứ nhất: thủ tục kết hôn của công dân Việt Nam tại Việt Nam:
Theo Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch thì UBND cấp xã nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn. Nơi cư trú, theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Dân sự, bao gồm: Nơi một người thường xuyên sinh sống và có hộ khẩu thường trú, hoặc nơi một người tạm trú và có đăng ký tạm trú. Như vậy, bạn có thể đăng ký kết hôn tại nơi các bạn đang tạm trú và không phải về địa phương để xin chứng nhận về tình trạng hôn nhân.
Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam nữ phải có mặt, nộp tờ khai đăng ký kết hôn và xuất trình: Giấy khai sinh của mỗi bên; Sổ hộ khẩu gia đình của bên nam hoặc bên nữ nơi đăng ký kết hôn.
Trong trường hợp không có đủ các giấy tờ trên, thì phải có giấy tờ hợp lệ thay thế. Trong trường hợp nghi ngờ một bên hoặc cả hai bên nam nữ mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức được hành vi của mình, đang mắc bệnh hoa liễu, thì yêu cầu đôi bên xuất trình giấy khám sức khỏe của cơ quan y tế cấp huyện
Tờ khai đăng ký kết hôn phải có xác nhận của cơ quan, đơn vị nơi công tác (đối với cán bộ, công chức, người lao động, lực lượng vũ trang nhân dân), hoặc của UBND cấp xã nơi cư trú của mỗi bên về tình trạng hôn nhân. Việc xác nhận tình trạng hôn nhân này có giá trị không quá 30 ngày. Trong trường hợp một trong hai bên hoặc cả hai bên đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hay người kia đã chết, thì phải nộp bản sao bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án về việc cho ly hôn hoặc bản sao giấy chứng tử.
Khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, UBND cấp xã phải tiến hành xác minh điều kiện kết hôn và niêm yết công khai việc xin đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND trong thời hạn 7 ngày. Nếu cần phải xác minh thêm, thì thời hạn kéo dài không quá 7 ngày.
Sau thời hạn nói trên, nếu xét thấy hai bên nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và không có sự khiếu nại, tố cáo về việc kết hôn, thì UBND cấp xã phải thông báo cho hai bên nam nữ biết về ngày đăng ký.
Sau thời hạn 7 ngày, kể từ ngày thông báo, nếu hai bên nam nữ không đến đăng ký kết hôn mà không có lý do chính đáng, thì UBND hủy việc xin đăng ký kết hôn đó và thông báo cho đương sự biết.
o Thứ hai: Thủ tục cấp mới chứng minh nhân dân cho công dân
Căn cứ Nghị định 05/1999/NĐ-CP ngày 03/2/1999 của Chính phủ về chứng minh nhân dân (CMND); Nghị định 170/2007/NĐ-CP ngày 19/11/2007 của Chính Phủ về sửa đổi một số điều Nghị định 05/CP; Thông tư 04/1999/TT-BCA(C13) ngày 29/4/1999 của Bộ Công an hướng dẫn một số quy định của Nghị định 05/199/NĐ-CP của Chính Phủ về CMND. Cấp mới chứng minh nhân dân bao gồm:
- Đơn đề nghị cấp CMND (nói rõ lý do cấp đổi, cấp lại) có xác nhận của Công an phường, xã, thị trấn nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, ảnh dán vào đơn có đóng dấu giáp lai (theo mẫu)
- Xuất trình hộ khẩu thường trú, nộp bản sao.
- Nộp lại CMND cũ (nếu có).
- 2 ảnh 3x4(mắt nhìn thẳng, áo trắng, không để râu, tóc không trùm tai trùm gáy, về phụ nữ không để hở ngực)
- Đối với công dân trong biên chế chính thức của quân đội nhân dân, Công an nhân dân việc xuất trình hộ khẩu thường trú được thay bằng giấy giới thiệu của cấp có thẩm quyền kèm theo chứng minh quân đội, giấy chứng nhận công an nhân dân.
- Đối với các trường hợp có thay đổi họ, tên, chữ đệm, ngày tháng năm sinh trong CMND phải xuất trình Giấy khai sinh theo quy định của pháp luật hoặc Quyết định của cấp có thẩm quyền cho phép thay đổi các nội dung trên (nộp lại bản sao có công chứng)
Sau khi điền đầy đủ thông tin trong đơn đề nghị làm theo các hướng dẫn của công an huyện và nộp lệ phí theo quy định, thì được cấp mới chứng minh nhân dân sau thời gian trên giấy hẹn : không quá 30 ngày với công dân làm lần đầu từ 18 tuổi, không quá 45 ngày với người làm lại chứng minh nhân dân lần thứ hai…

Câu 2. vấn đề đơn giản hoá thủ tục hành chính hiện nay
Trươc một thực trạng là vấn đề thủ tục hành chính đang là một sự cản trở cho sự phát triển, gây phiền hà cho người dân, gây mất lòng tin của người dân với chính quyền đây cũng là một trong những rào cản cho thu hút đầu tư nước ngoài, kích thích sản xuất phát triền do những yếu kém , do những phiền toái mà nó gây ra.
Và đơn giản hóa thủ tục hành chính là một trọng tâm quan trọng của cải cách hành chính đặt ra. Để tránh phiền hà cho người dân và doanh nghiệp.. Nhằm nâng cao tính hiệu quả của bộ máy hành chính, tăng cường lòng tin của nhân dân với chính quyền. hiện nhà nước ta đã và đang đẩy mạnh cải cách thủ tuc hành chính.
Đã có nhiều giải pháp được đưa ra, trong đó đáng chú ý là đề án 30 của chính phủ về vấn đề đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Cụ thể :Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2007 của BCH Trung ương Đảng khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, xác định: " Tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xem đây là khâu đột phá để tạo môi trường thuận lợi, minh bạch cho hoạt động của nhân dân và doanh nghiệp. Tiến hành rà soát các thủ tục hành chính trên tât cả các lĩnh vực, chỉ rõ những thủ tục, những quy định sai pháp luật, không phù hợp để kiến quyết sửa đổi... " . Để giải quyết những tồn tại và nhằm tạo bước đột phá trong cải cách hành chính, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 Phê duyệt Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 - 2010 (gọi tắt là Đề án 30).
Nhiệm vụ của Đề án 30 là:
(1) Thống kê tất cả các thủ tục hành chính , mẫu đơn mẫu tờ khai hành chính, các yêu cầu hoặc điều kiện để thực hiện Thủ tục hành chính đang được áp dụng tại các cấp chính quyền (Trung ương, tỉnh, huyện, xã)
(2) Công bố công khai tất cả các Thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, các yêu cầu hoặc điều kiện để thực hiện Thủ tục hành chính trên Trang thông tin điện tử của Tổ công tác chuyên trách của Thủ tướng Chính phủ; Rà soát từng Thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, yêu cầu hoặc điều kiện để thực hiện thủ tục hành chính và rà soát theo nhóm những Thủ tục hành chính có liên quan chặt chẽ với nhau theo các tiêu chí đã được chuẩn hóa trên cơ sở bảo đảm tính hợp pháp, tính cần thiết và sự hợp lý của Thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính và yêu cầu hoặc điều kiện để thực hiện Thủ tục hành chính;
(3) Xây dựng các khuyến nghị cụ thể cần thiết nhằm đơn giản hóa hoặc bãi bỏ, huỷ bỏ, sửa đổi các Thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, các yêu cầu hoặc điều kiện để thực hiện Thủ tục hành chính khônghợp pháp, không cần thiết, không hợp lý trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh thực hiện các khuyến nghị đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thông qua;
(4) Thiết lập, công khai và duy trì Cơ sở dữ liệu quốc gia về Thủ tục hành chính, mẫu đơn mẫu tờ khai hành chính, các yêu cầu hoặc điều kiện để thực hiện Thủ tục hành chính đang được áp dụng tại các cấp chính quyền (Trung ương, tỉnh, huyện, xã) trên Trang thông tin điện tử của Tổ công tác chuyên trách của Thủ tướng Chính phủ.
Phạm vi Đề án 30: Đề án 30 áp dụng đối với
Thủ tục hành chính giữa cơ quan hành chính nhà nước với cá nhân, tổ chức liên quan đến đời sống của nhân dân;
Thủ tục hành chính giữa cơ quan hành chính nhà nước với cá nhân, tổ chức liên quan đến hoạt động kinh doanh.
Thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, yêu cầu hoặc điều kiện để thực hiện thủ tục hành chính thuộc phạm vi đơn giản hoá của Đề án 30 được quy định trong các văn bản, như: Luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ Trung ương tới cấp xã, văn bản hành chính khác không phải là văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan hành chính các cấp ban hành.
Kết quả của Đề án 30:
(1) Hoàn thành và công khai trên INTERNET Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, yêu cầu hoặc điều kiện để thực hiện thủ tục hành chính và toàn bộ các văn bản pháp luật có liên quan trên cơ sở đã được đơn giản hoá theo các tiêu chí về tính hợp pháp, sự cần thiết và tính hợp lý của thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính và yêu cầu hoặc điều kiện để thực hiện thủ tục hành chính. Kết thúc năm 2010, cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước có thể truy cập vào trang thông tin điện tử của Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ hoặc Cổng thông tin điện tử của Chính phủ để tìm hiểu, giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính ở tất cả các cấp chính quyền trong phạm vi toàn quốc; in mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính để khai thay vì phải mua hoặc đến cơ quan hành chính xin mẫu văn bản. Một hệ thống trợ giúp tự động trên mạng cũng được thiết lập để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tìm kiếm thủ tục hành chính và kê khai mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính;
(2) Nghị định về tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính;
(3) Nghị định về kiểm soát thủ tục hành chính để kiểm soát thủ tục hành chính ở các cấp chính quyền trong phạm vi toàn quốc và duy trì kết quả thực hiện Đề án 30 sau khi kết thúc đề án vào cuối năm 2010; Văn bản của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền để sửa đổi, bãi bỏ, huỷ bỏ hoặc đơn giản hoá các thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, yêu cầu hoặc điều kiện để thực hiện thủ tục hành chính không hợp pháp, không cần thiết và không hợp lý.
Cơ cấu tổ chức của Đề án, gồm:
(1) Tổ công tác chuyên trách của Thủ tướng Chính phủ là tổ chức độc lập do Thủ tướng Chính phủ thành lập, làm việc chuyên trách trong thời gian 3 năm (2007- 2010), do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc làm Tổ trưởng;
(2)Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính là tổ chức tư vấn, hỗ trợ cho Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Đề án đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010. Hội đồng tư vấn là cơ quan đại diện cho khối doanh nghiệp, các nhà khoa học, hiệp hội và công dân để phản biện và đóng góp ý kiến kịp thời và hiệu quả cho cải cách Thủ tục hành chính, đồng thời cung cấp thông tin phù hợp, kịp thời và cho ý kiến về tính hợp pháp, cần thiết và tính đơn giản của các thủ tục hành chính;
(3) Tổ công tác thực hiện Đề án 30 của 18 Bộ, 03 cơ quan ngang bộ và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Tổ công tác thực hiện Đề án 30 tỉnh Tuyên Quang (gọi tắt là Tổ Đề án 30 tỉnh) do Chủ tịch UBND tỉnh thành lập, chịu sự chỉ đạo và báo cáo trực tiếp việc thực hiện Đề án 30 trên địa bàn tỉnh với Chủ tịch UBND tỉnh. Tổ trưởng Tổ Đề án 30 tỉnh là Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Phó Giám đốc Sở Tư pháp làm Tổ phó, 06 thành viên được trưng tập từ các ngành: Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng UBND tỉnh. Trụ sở của Tổ Đề án 30 đặt tại Sở Tư pháp. Tổ Đề án 30 có chức năng tổ chức và điều phối việc thực hiện Đề án 30 trên địa bàn toàn tỉnh; có nhiệm vụ tổ chức việc thống kê, rà soát thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai trong hồ sơ thủ tục hành chính đang được áp dụng tại cơ quan hành chính các cấp từ tỉnh đến xã; đưa ra khuyến nghị hủy bỏ, bãi bỏ, sửa đổi, đơn giản hóa hoặc giữ nguyên các Thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, các yêu cầu hoặc điều kiện để thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền, phạm vi quản lý của địa phương. Tổ công tác thực hiện Đề án 30 tỉnh làm việc trong thời hạn 3 năm (2008-2010).
Các cơ quan ở địa phương phải thực hiện thống kê, rà soát thủ tục hành chính theo quy định của Đề án 30, gồm: Các sở, ban, ngành thuộc UBND tỉnh; UBND cấp huyện và cơ quan chuyên môn trực thuộc; UBND cấp xã. Để thực hiện Đề án 30, Thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp xã phải thành lập Tổ hoặc cử cán bộ theo dõi, tổ chức thực hiện Đề án 30. Tổ/ hoặc cán bộ thực hiện Đề án 30 của các cơ quan, đơn vị cần bám sát chỉ đạo của Thủ trướng Chính phủ, Tổ công tác chuyên trách của Thủ tướng, UBND tỉnh và hướng dẫn của Tổ công tác thực hiện Đề án 30 của tỉnh trong suốt quá trình thực hiện Đề án. Đặc biệt, các văn bản chỉ đạo và tài liệu hướng dẫn, danh mục thủ tục hành chính của các cấp, các ngành, các loại biểu mẫu, các ý kiến trao đổi về chuyên môn nghiệp vụ đều được đăng tải trên Trang thông tin cải cách thủ tục hành chính của Tổ công tác chuyên trách của Thủ tướng Chính phủ
Câu 3: nhận thức về mô hình 1 cửa họăc 1 cửa liên thông
Thực trạng thủ tục hành chính giải quyết cho công dân, cá nhân, tổ chức, đơn vị sản xuất kinh doanh đang gặp nhiều khó khăn, phiền toái do cơ chế phiền toái, chồng chéo , nhiều cửa, gây mất thời gian và tiền bạc của nhân dân. Việc tồn tại cơ chế nhiều cửa vô hình chung tạo điều kiện cho một bộ phận cán bộ hành chính gây phiền hà, nhũng nhiễu nhân dân, gây tâm lý ngại ngần khi tới nơi công quyền, cản trở việc đầu tư , thu hút đầu tư trong sản xuất kinh doanh. Đây cũng là một sự cản trở nghiêm trọng cho cải cách hành chính ở nước ta.
Cho nên, với mục đích đơn giản, công khai và minh bạch thủ tục hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 38/NQ-CP, ngày 4-5-1994, về cải cách một bước thủ tục hành chính trong giải quyết công việc của tổ chức công dân, và gần đây Thủ tướng Chính phủ có Quyết định 181/2003/QĐ-TTg, ngày 4-9-2003, ban hành Quy chế thực hiện cơ chế "một cửa" tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương mà chúng ta thường gọi là thực hiện theo cơ chế "một cửa".
"Một cửa" là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, công dân thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước từ tiếp nhận yêu cầu, hồ sơ đến trả lại kết quả thông qua một đầu mối là "bộ phận tiếp nhận và trả kết quả" tại cơ quan hành chính nhà nước.
Theo quy định tại Điều 1, Quyết định số 93/2007/NĐ-TTg, ngày 22-6-2007, của Thủ tướng Chính phủ về "Thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương" thì:
"Cơ chế một cửa liên thông" là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp hoặc giữa các cấp hành chính từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành chính nhà nước.
Theo quy định tại Điều 2, Quyết định số 93/2007/NĐ-TTg, ngày 22-6-2007, của Thủ tướng Chính phủ, việc thực hiện cơ chế "một cửa", "cơ chế một cửa liên thông" tại cơ quan hành chính nhà nước phải tuân theo những nguyên tắc sau:
Thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật.
Công khai các thủ tục hành chính, mức thu phí, lệ phí, giấy tờ, hồ sơ và thời gian giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân.
Nhận yêu cầu và trả kết quả tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả.
Bảo đảm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện cho tổ chức, cánhân.
Đảm bảo sự phối hợp giải quyết công việc giữa các bộ phận, cơ quan hành chính nhà nước để giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân.
Trong thời gian qua, thực hiện cơ chế "một cửa" cho thấy đã có bước chuyển căn bản trong quan hệ và thủ tục giải quyết công việc giữa cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức, công dân, giảm phiền hà cho tổ chức, công dân, hạn chế tệ quan liêu, tham nhũng, cửa quyền của cán bộ, công chức, được đông đảo nhân dân đồng tình, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được nâng cao. Cụ thể là:
- Về cung cách giao tiếp, người dân được tiếp đón niềm nở, thân thiện, hướng dẫn nhiệt tình, thấu đáo; đặc biệt là được giao hẹn bằng phiếu hẹn trả hồ sơ.
- Về nội dung, người dân được công khai các quy định thống nhất về hồ sơ, trình tự và thời gian giải quyết thủ tục cho từng loại công việc cụ thể; nếu không thuộc phạm vi trách nhiệm giải quyết tại bộ phận "một cửa" thì được tư vấn đầy đủ để thực hiện tại các cơ quan hành chính khác.
- Về chi phí, người dân được công khai các loại phí, lệ phí phải nộp, không phải thêm một khoản nào khác ngoài quy định của Nhà nước; đặc biệt là tiết kiệm được thời gian và chi phí đi lại liên hệ vì đã có thời gian cụ thể do bộ phận "một cửa" giao kết tại phiếu hẹn.
Vì vậy, có thể nói rằng, cho đến nay, việc thực hiện cơ chế "một cửa" là biện pháp hữu hiệu để cải cách thủ tục hành chính nhằm giải tỏa những bức xúc kể trên của người dân, góp phần đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế.
Tuy nhiên cũng cần thấy rằng thực trạng mô hình cơ chế một cửa liên thông vẫn chưa được nhân rộng. mới chỉ thí điểm một số địa phương. Một số địa phương, người dân được hưởng lợi ích từ cơ chế này. Nhưng nhiều nơi người dân vẫn phải chịu đựng tình cảnh phiền hà, vất vả, cản trở không chỉ cho các hoạt động kinh doanh, mà còn cả hoạt động sống thường ngày, gây ra tâm lý ngại ngần khi phải đến nơi chính quyền để giải quyết công việc. Cho nên vấn đề trước mắt là vẫn phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế một cửa, và tiến hành nhân rộng ra cẩ nước, ở tất cả các địa phương để người dân nhanh chóng đươc hưởng những quyền lợi ích chính đáng của mình một cách nhanh chóng thuận tiện.