LÃNH ĐẠO HIỆU QUẢ

1. KHÁI NIỆM. Sự sống còn của một nhóm hay một tổ chức đều do mục tiêu đã được vạch ra và lãnh đạo là tác động vào tổ chức dó để tiến tới mục tiêu. Nói một cách khác, lãnh đạo là một quá trình gây ảnh hưởng đến các hoạt động của một cá nhân hay một nhóm nhằm đạt được mục đích trong tình huống nhất định. Trước đây, theo quan niệm xưa, người lãnh đạo là người tài ba xuất chúng, đạo đức mẫu mực, xem người chịu sự lãnh đạo là người còn ấu trĩ. Đó là quan niệm lãnh đạo cá nhân. Trong thời gian qua, khoa học cũng đã tập trung nghiên cứu về lãnh đạo cá nhân như trí thông minh, năng khiếu, nghị lực… Kết quả không có gì đặc biệt và nhận thấy sự xuất hiện lãnh đạo lại tùy thuộc vào hoàn cảnh, tùy vào yêu cầu của tập thể ở một thời điểm nhất định. Đó là khả năng nhận diện vấn đề của nhóm và vận động mọi người cùng tham gia giải quyết vấn đề đó. Hiện nay, khoa học không còn tập trung vào cá nhân mà quan sát những động tác , hành vi( hành vi lãnh đạo ) trong nhóm và nhận thấy người lãnh đạo thành công là người biết điều hòa sự tham gia, tổng hợp các ý kiến, giúp nhóm khai phá vấn đề. Lãnh đạo là một tiến trình tập thể : người lãnh đạo giỏi là người biết phát hiện, phát huy, và nối kết các hành vi của nhóm để đưa nhóm đến mục tiêu.

2. LÃNH ĐẠO NHƯ THẾ NÀO ?
Theo Auren Uris, có ba phong cách lãnh đạo cơ bản :

· Lãnh đạo độc tài : Nhà lãnh đạo đòi hỏi cấp dưới phải tuân phục mọi mệnh lệnh của mình. Ông ta quyết định chính sách và coi việc lựa chọn là điều mà chỉ có một người có quyền làm là ông ta. Nhưng ở đây không có nghĩa là sự thống trị bởi một người.

· Lãnh đạo dân chủ : Nhà lãnh đạo ghi nhận ý kiến của nhóm viên, tổ chức các buổi họp thảo luận, bàn bạc công việc, tham khảo ý kiến của người khác và khuyến khích nhóm viên tham gia lập ra chính sách. Công việc của người lãnh đạo chủ yếu là điều hành các buổi họp. Nhưng cũng đừng hiểu lãnh đạo dân chủ là mọi quyết định đều dựa trên sự biểu quyết của tập thể.

·Lãnh đạo để tự do hoạt động : Người lãnh đạo chỉ là người cung cấp thông tin và các dữ kiện, không tham gia vào hoạt động của tập thể, sử dụng rất ít quyền điều hành của mình. Đây cũng không có nghĩa là thiếu vắng hoàn toàn sự lãnh đạo, mọi người được phép muốn làm gì thì làm. Người lãnh đạo có thể thể hiện bất cứ phong cách nào trong ba phong cách này. Nhưng điều quan trọng là không nên cố định chỉ ở một phong cách duy nhất vì còn phải tùy thuộc rất nhiều yếu tố chi phối tập thể. Nghệ thuật lãnh đạo là sự uyển chuyển, biết sử dụng phương cách nào một cách đúng lúc và thích hợp nhất. Việc chọn phong cách lãnh đạo nào là tùy :

2.1 Cá nhân nhóm viên : Không ai giống ai, mỗi cá nhân có những đặc điểm riêng biệt. Cần phải độc tài với những loại người như : " Những người hay có thái độ chống đối, ngang bướng." Những người không tự chủ ( thiếu ý chí và nghị lực ) Cần phải dân chủ đối với những loại người như : " Những người có tinh thần hợp tác" Những người thích lối sống tập thể. Đối với những loại người này nên để họ tự do hoạt động : "Những người hay có đầu óc cá nhân, thích được khen và được chú ý, thích làm theo ý riêng của họ." Những người không thích giao tiếp vì một lý do tâm lý nào đó.

2.2. Tập thể nhóm viên : Đặc tính chung của những cá nhân trong nhóm ảnh hưởng đến phong cách lãnh đạo được sử dụng. Nhóm này khác với nhóm kia ở những điểm nào đó, hiểu được điểm khác biệt thì sẽ chọn được phong cách phù hợp. Việc chọn phong cách lãnh đạo phải dựa trên cơ sở đánh giá nhóm viên của mình. Khi hoàn cảnh thay đổi, con người có thể thay đổi cả thái độ lẩn hành vi của mình. Qua kinh nghiệm, các thành viên khi tham gia nhóm và làm việc chung với nhau thường hình thành một tính thống nhất trong hành vi và thái độ. Tuy nhiên, có thể vẫn tồn tại một vài cá nhân không đi theo đường lối của nhóm hoặc không đồng tình với một phương pháp lãnh đạo nào đó. Để định hướng cho một phong cách lãnh đạo phù hợp, người lãnh đạo phải tìm hiểu những cá tính này kỹ lưỡng, bao gồm những điểm tương đồng và những sự khác biệt trong hành vi, thái độ, biểu hiện tâm lý, tình cảm, cung cách làm việc và sinh hoạt trong nhóm. Sự hình thành và phát triển cá tính của một người mang dấu ấn rất lớn của thời thơ ấu. Tuy nhiên, quá trình phát triển cá tính của một nhóm không giống như quá trình phát triển cá tính của một cá nhân. Trước khi quyết định phong cách lãnh đạo, người lãnh đạo phải cân nhắc các điểm sau đây : + Khả năng của nhóm có hiểu những mục tiêu mà nhóm đang thực hiện không? + Tính hiệu quả của nhóm trong nổ lực hoàn thành những mục tiêu đó ? ( năng lực, cơ cấu, phối hợp trong công việc ). + Sự hăng hái phục vụ cho những mục tiêu chung ? + Tính đồng nhất của nhóm: lứa tuổi, trình độ, sở thích, người giỏi, người kém.

2.3. Tình huống lãnh đạo : Nhóm thường trải qua những hoàn cảnh, tình huống khác nhau, lúc vui, lúc buồn, lúc căng thẳng. Điều này đòi hỏi công tác lãnh đạo cũng phải có những thay đổi hợp lý và sẵn sàng đối phó với những tình huống có thể xảy ra. "Tình huống bất trắc, khẩn trương: phong cách chỉ huy" Tình huống khẩn trương, phải tập trung cao độ: phong cách quan tâm, được lòng người là hiệu quả nhất vì không ai muốn căng thẳng."Tình huống có bất đồng trong nhóm : phong cách dân chủ, nhưng cũng có khi chỉ huy." Tình huống có hoang mang, xáo trộn trong nhóm: phong cách thân mật.
2.4. Cá tính của người lãnh đạo : Có khi cá tính của người lãnh đạo là nhân tố quyết định trong việc lựa chọn phong cách lãnh đạo. Nó là nguyên nhân vì sao chúng ta cảm thấy thích phong cách lãnh đạo này hơn những phong cách khác. Nói chung, mọi hành vi của chúng ta, từ cách ăn nói đến cách đi đứng, đều bộc lộ cá tính của mình. Kinh nghiệm đã rút ra các điểm sau đây : " Áp dụng phong cách tự nhiên sẽ tốt hơn các phong cách còn lại." Dù thích phong cách nào đi nữa, cũng có lúc dùng một trong ba phong cách cơ bản ở một mức độ nào đó. "Chúng ta thường sử dụng phong cách nào mình thích, nhưng nếu tình huống thay đổi, phải sử dụng phong cách thích hợp nhất." Điều quan trọng là chúng ta phải kiểm tra lại cá tính của mình. Người lãnh đạo hiệu quả phải thật sự hiểu rõ về chính mình.

3. LÃNH ĐẠO HIỆU QUẢ .
Theo Auren Uris, thái độ được biểu hiện qua cử chỉ, hành vi, là một yếu tố rất quan trọng, có thể nói quyết định đến sự thành bại của công việc trong một nhóm. Lãnh đạo hiệu quả là làm thế nào có thể duy trì và phát triển những thái độ mà người lãnh đạo muốn. Thông thường có mối liên hệ như sau : Phong cách lãnh đạo - Thái độ của nhóm viên Độc tài - Phục tùng - Dân chủ - Hợp tác Tự do hoạt động - Phát huy sáng kiến - Nhưng nên nhớ là phong cách lãnh đạo được sử dụng tùy thuộc vào kết quả nào mà người lãnh đạo mong muốn. Nhưng làm thế nào nào để hình thành thái độ ?

+
Với phong cách chỉ huy: Người lãnh đạo chịu trách nhiệm toàn bộ về kế hoạch và thườnghướng dẫn nhóm hoạt động. Nhóm viên phải hiểu tường tận những công việc trong nhóm và nhiệm vụ của chính mình.

+
Với phong cách dân chủ : Người lãnh đạo cần tỏ ra là đang thật sự cần sự hợp tác của các nhóm viên và họ sẽ sẵn sàng giúp người lãnh đạo. Nhưng cần phải lưu ý đến những giới hạn trong phương cách dân chủ vì quyết định của nhóm cũng chưa hẳn là đúng.

+ Với phong cách tự do hoạt động :
Người lãnh đạo nói rõ cho nhóm viên biết mục đích của công việc là gì và cho phép họ sử dụng sáng kiến của chính mình để thực hiện công việc. Nhưng người chịu trách nhiệm cuối cùng vẫn phải là người lãnh đạo. Do đó, nên căn dặn họ nên thường xuyên thông báo cho bạn biết tiến triển của công việc. Điều quan trọng là những gì mình muốn và khi nào muốn phải được trình bày rõ ràng cho nhóm viên biết. Phục tùng quá mức thì nhóm viên không có cơ hội để phát triển năng lực, hợp tác quá mức có khi đưa đến tình trạng mất thời gian vô ích và cuối cùng, tự do phát huy sáng kiến quá mức có thể gây rối loạn cho công việc.

1.
Các phong cách thể hiện trong thảo luận nhóm:
Phong cách Lúc đầu Lúc nửa chừng Sau cùng
Độc đoán áp đặt mục tiêu của mình áp đặt ý kiến, tổ chức tranh luận đưa kết luận
Dân chủ thiết lập mục tiêu chung xem xét lại, khuyến khích sự trao đổi đề nghị tổng hợp chung
Mặc kệ không can thiệp tự do không can thiệp




Hậu quả:
Phong cách đối với công việc khả năng tự lập tiến trình nhóm thỏa mãn của nhóm viên
Độc đoán tốt tùy thuộc, qui phục căng thẳng trầm lặng. xoa dịu, trấn an
Dân chủ tốt năng động cao liên kết, giúp đỡ nhau thỏa mãn
Mặt kệ xấu thụ động chia phe vô kỷ luật





Theo Blake và Mouton, phong cách lãnh đạo tùy thuộc vào 2 chiều hướng: quan tâm đến công việc hay quan tâm đến nhóm, từ đó mà có 4 phong cách cực đoan : PC mặc kệ, PC nhân từ (tham dự), PC lý tưởng (Đa số), PC độc đoán.
PC tham dự : PC qua dó người lãnh đạo không quan tâm đến tổ chức, vị trí, quên đi vai trò lãnh đạo của mình, coi mình là một thành viên như người khác. Đây là phong cách quan tâm đến sự tìm tòi, khám phá.PC thực dụng là phong cách hiệu quả nhất vì dung hoà được các mặt khuyết của các phong cách khác. 6. Mối tương quan giữa 3 yếu tố trong lãnh đạo: vấn đề, lãnh đạo và nhân viên. Các yếu tố này phải được cân bằng :

a. Nếu quan hệ tin tưởng tăng thì có thể không đào sâu vấn đề, an tâm, dậm chân tại chỗ.

b.
Lãnh đạo can thiệp ít thì nhu cầu có bầu không khí thuận lợi của nhân viên không được thỏa mãn.

c.
Quan hệ tin tưởng không có thì lãnh đạo và nhân viên không tin là những nhu cầu hỗ tương có thể được thỏa mãn bởi các kỹ năng của 2 bên
(Sưu tầm)