X
Thông báo Tuyển sinh đào tạo trình độ Thạc Sĩ đợt I năm 2014
Lịch hướng dẫn ôn thi cao học đợt I năm 2014 tại Hà Nội


Loading

Danh sách thành viên được đánh dấu

Trang 1/3 123 CuốiCuối
Kết quả từ 1 tới 15 trên 44

Thế nào là một rối loạn tâm lý?

  1. Cán sự
    Bắt đầu vào 04-10-2009, 10:05 PM
    Đã viết: 41 bài thảo luận
    ditimchanly is offline
    27987 lượt xem
    #1

    Sun Mối quan hệ giữa tâm lý học hiện đại và Phật giáo.

    Chào mọi người. Tôi mới tìm thấy trên mạng có cuốn sách hay nói lên mối liên hệ giữa tâm lý học hiện đại và Phật giáo, thấy có nhiều thú vị nên muốn giới thiệu. Cuốn sách này không dài lắm chỉ hơn 30 trang A4 và là tác phẩm dịch của Thích Viên Lý - người theo đạo Phật. Cuốn này khó thể coi là đầy đủ nhưng trong tình trạng hiếm hoi tài liệu chuyên sâu hiện nay dù sao nó cũng là một cuốn đáng lưu tâm. Cuốn có đề cập đến một số ông lớn trong tâm lý như Sigmund Freud, Carl Rogers, A. Maslow, một số nhà triết học như Soren Kierkegaard, Martin Heidegger và Jean-Paul Sartre (trùm chủ nghĩa hiện sinh). Cuốn trình bày khá sâu một số khái niệm tâm lý chẳng hạn như Id, ego, một số hiện tượng rối loạn như cảm giác trống rỗng, cô đơn, buồn chán...Một số từ ngữ chuyên nghành dịch không ổn lắm có lẽ bởi dịch giả không chuyên về tâm lý, nhưng nếu xét chung thì cuốn dịch tốt thể hiện một tầm hiểu biết tương đối đa dạng. Đây là link đọc trực tuyến http://www.thuvienhoasen.org/phatgia...hiendai-00.htm, nếu muốn down cả quyển về để tiện đọc hoặc in thì nhấn vào link này, tôi đưa tài liệu lên trang scribd http://www.scribd.com/doc/20002905/P...-Va-Tam-Ly-Hoc. Tiện đây cũng giới thiệu một số sách Phật giáo mà tôi thấy hay, liên kết dưới đây chứa chúng:

    http://www.scribd.com/huekhong

    Cảm ơn bạn đã đọc và mong nhận được hồi đáp.

    Bài viết ngẫu nhiên trong diễn đàn:

    • » [4/05/2012] Tổng bí thư Nguyễn Phú...
    • » Hà Nam đồng hương Hội
    • » Dự đoán trận Hy lạp - Aghentina
    • » Valentine đừng buồn nha em
    • » Tìm nữ ở ghép
    • » Trình độ của cán bộ quản lý?
    • » Hành chính nhà nước Vạn Xuân
    • » Cười vòng quanh thế giới
    • » Trao đổi về chi phí và lệ phí học...
    • » (Kỹ năng sống) Tô Mì Của Người Lạ

    Bài viết ngẫu nhiên cùng Box:

    • » giải dùm mình bài nay nha
    • » câu hỏi ôntập
    • » Phân biệt Quá trình tư duy & Quá trình...
    • » Tham khảo giải đề thi Tâm lý học
    • » Tài liệu học tập môn Tâm lý học đại...
    • » Dựa vào các quá trình của trí nhớ hãy...
    • » Giúp em làm bài này nhé mọi người
    • » Tâm lí học đại cương!
    • » phan tich vai tro cua tinh cam trong...
    • » Trọn bộ câu hỏi ôn thi Tâm lý học...
  2. 24-10-2009, 03:12 AM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 24-10-2009, 03:12 AM
    Bài viết: 41
    ditimchanly is offline
    #2

    Sun Thế nào là một rối loạn tâm lý?

    Tâm lý học Phật giáo là cách nói mang tính hiện đại cho bộ môn cổ xưa có tên Duy Thức học. Bản thân Duy Thức là một trong những nhánh chính của Đại thừa và được đánh giá là môn học sâu sắc, hấp dẫn và huyền bí. Nó rất gần với tâm lý học hiện đại.

    Hiển nhiên không dễ chút nào khi đọc chúng, bản thân tôi biết đến nó đã gần 2 năm nay nhưng chỉ 3 tháng vừa rồi mới dám mạnh dạn đọc những quyển chuyên biệt. Nguyên nhân nằm ở một số yếu tố sau, thứ nhất đó là để hiểu những thể loại như thế này bạn cần phải có kiến thức nhất định về tâm lý, bạn phải từng đọc qua một số tài liệu về tâm lý, có những khái niệm cơ bản chẳng hạn như “cái tôi”, “ý thức”, “cảm giác”... trừ phi bạn là một người nhạy cảm đặc biệt đối với tâm trí – thực sự ít người may mắn như thế – tôi cũng không nằm trong số người may mắn đó và do vậy cũng phải tự tìm đọc một số thông tin. Thứ đến bạn cũng phải có mốt ít vốn về Phật giáo, không cần quá nhiều, nhưng cũng phải có, nếu chưa biết gì về Đạo Phật mặc dù có kiến thức về tâm lý mà đọc cuốn này bạn sẽ chẳng hiểu gì mấy và thấy như mình đang đọc một thứ rất là vớ vẩn và lỗi thời! Mà càng có kiến thức tâm lý hiện đại thâm sâu ta càng có cái khuynh hướng coi Duy Thức học là cái điện thoại Nokia 110i có vài chức năng tẻ nhạt còn cái hiện đại như con iPhone cảm ứng đời mới nhất Thế là thôi ta quẳng ngay con Nokia cục gạch của mình vào hộc bàn, để nó chìm vào quên lãng! Và cái cuối cùng tôi muốn nói đó là ngôn ngữ sử dụng, thuật ngữ của bộ môn này đều thuộc loại cổ, chủ yếu là từ hán việt nên đọc lên một cái không thể hiểu ngay được mà phải kiên nhẫn, từ từ mới lộ ra dần cái ý nghĩa.

    Hiện nay sách bằng tiếng Việt của môn này cũng không ít (có rải rác ở các trang như thuvienhoasen.org và Tu viện Quảng Đức...), nhiều quyển trình bày với ngôn ngữ hiện đại rất dễ hiểu với chúng ta, những cuốn như thế dĩ nhiên là nên đọc trước, nếu đọc ngay những cuốn nguyên bản cổ xưa khả năng rất cao là chẳng hiểu gì mấy.

    Dần dần tôi sẽ giới thiệu từng quyển một, bác nào thích thú tự tìm hiểu lấy cũng tốt, trên mạng rất nhiều.

    Đầu tiên là Duy Biểu Học Giảng Luận của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Đây là cuốn dễ đọc, Duy Biểu trong tên sách ở đây tương đương với từ Duy Thức. Được viết dựa trên băng thâu âm mà Thiền sư giảng cho môn đồ nên văn phong rất gần gũi chẳng khác gì đang được nghe giảng. Nội dung phong phú, giảng giải cặn kẽ dễ hiểu và dân dã là những ưu điểm của cuốn sách này.

    *Bản online:http://www.thuvienhoasen.org/duybieuhoc-00.htm

    *Tải cả quyển để tiện đọc hoặc in (Word hoặc PDF – cần tài khoản – chỉ mất 2 phút để tạo tài khoản mới):http://www.scribd.com/doc/20826354/G...n-Duy-Bieu-Hoc
  3. 04-11-2009, 08:42 AM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 04-11-2009, 08:42 AM
    Bài viết: 41
    ditimchanly is offline
    #3

    Default Thế nào là một rối loạn tâm lý?

    Để tiếp tục đề tài Duy Thức, tôi muốn giới thiệu cuốn sách thứ hai mang tên Tâm lý học Phật giáo cũng rất gần gũi và dễ hiểu, được trình bày bằng ngôn ngữ hiện đại, ngoài ra cuốn còn được bổ sung một số kiến thức tâm lý đương thời giúp độc giả tiếp cận nội dung thích hợp hơn. Sách của Thích Tâm Thiện. Xin trích một đoạn trong sách:

    "Trong khi, chỉ số đánh giá mức phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc được xác định trên tỷ lệ tăng hoặc giảm của "GDP" (General Domestic Product - Tổng sản lượng hàng hóa nội địa) và "GNP" (Gross National Product - Tổng sản lượng quốc gia); thì ngược lại, chỉ số "stress" của con người ngày càng tăng. Đối với các nước công nghệ (1) siêu cường của thế giới thì căn bệnh trầm kha nhất không phải là kinh tế, mà chính là "stress" - một sự khủng hoảng tâm lý thời đại.

    Ngược lại, các nước kém phát triển và đang phát triển thì căn bệnh khủng hoảng đó bao gồm cả hai: khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng tâm lý. Với một đường hướng phát triển như thế đã đánh mất sự quân bình của đời sống con người. Nếu sự phát triển chỉ dựa vào lợi tức thu nhập (income) kinh tế và tư bản (tiền tệ), nghĩa là chỉ dựa vào khát vọng làm giàu và tôn vinh sự bảo thủ độc quyền (exclusive) - nói theo ngôn ngữ của Phật là tham ái (tanhà) và chấp thủ (upadàna) - thì ắt hẳn sẽ đưa đến khổ đau, bất hạnh và tuyệt vọng.

    Vì thế, trước viễn cảnh của những khủng hoảng trầm trọng, nhất là khủng hoảng tâm lý của con người như là các hội chứng của stress thời đại, các giá trị trong sự sống của con người cần thiết được xét lại, và cần được soi sáng bởi những lời dạy của Đức Phật"


    Link down:

    *Bản online:http://www.thuvienhoasen.org/tt-tamlyhocphgiao-ML.html

    *Word hoặc Pdf: http://www.scribd.com/doc/20826507/Tam-Ly-Hoc-Phat-Giao
  4. 11-11-2009, 03:47 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 11-11-2009, 03:47 PM
    Bài viết: 41
    ditimchanly is offline
    #4

    Red face Thế nào là một rối loạn tâm lý?

    Mặc cảm thiếu cơ bắp (tiếng Anh: muscle dysmorphia ) là một dạng của bệnh mặc cảm ngoại hình liên quan đến việc một người luôn bị ám ảnh rằng cơ thể của mình chưa đủ cơ bắp. Trong tiếng Anh bệnh còn có tên là bigorexia, sỡ dĩ như vậy là bởi để đối xứng với bệnh anorexia nervosa (chán ăn tâm thần), nếu như mặc cảm thiếu cơ bắp thường gặp ở nam giới với ám ảnh là mình quá nhỏ thì ngược lại chán ăn tâm thần lại hay gặp ở phụ nữ với ám ảnh là mình quá béo[1], ngoài ra nó còn có một tên khác nữa là phức cảm Adonis (Adonis Complex, theo truyền thuyết Adonis là vị thần có ngoại hình rất đẹp)[2]. Người có mặc cảm này này dễ gặp chấn thương do tập luyện quá độ và mắc các bệnh liên quan đến rối loạn ăn uống trong đó chủ yếu là ăn vô độ.

    1.Đặc điểm

    Sự thật thì mặc cảm thiếu cơ bắp lại hay gặp ở những người có cơ thể bình thường, thậm chí cả những người được xếp vào dạng có cơ bắp, đặc biệt căn bệnh có tỷ lệ tương đối cao ở các vận động viên thể thao những người mà thể hình đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp. Nhưng dù trên đối tượng nào mặc cảm này đều gây ra phiền phức nghiêm trọng, nó làm giảm sự tự tin của người mắc và gây ra các bệnh thể chất. Ngoài ra khi có điều kiện họ còn sử dụng thêm chất steroid - một hóa chất có khả năng kích thích tiết hooc môn testosterone khi đi vào cơ thể. Steroid làm cho cơ thể to khỏe và giảm mệt mỏi khi luyện tập nhưng đồng thời nó cũng tạo ra nhiều nguy cơ trong đó có ngộ độc gan và biến đổi ngoại hình theo giới tính ngược (ở nam ngực nở ra như nữ, giọng the thé, ở nữ mọc râu…) và nguy hiểm nhất có thể dẫn đến tử vong[3].

    2.Nguyên nhân

    Dưới góc độ tiến hóa người nam to khỏe đem lại sự bảo đảm cho cuộc sống tốt hơn, cho ra những đứa con có cơ hội sống cao do vậy nữ giới bị hấp dẫn với người nam có cơ bắp[4]. Việc nam giới mong muốn mình có thể hình rắn chắc là hệ quả tất nhiên của sự việc trên để lôi cuốn bạn tình và được cho là hợp lý, tuy nhiên ám ảnh thì lại khác hẳn. Giống như ở người nữ mắc chán ăn tâm thần, nam giới cũng bị ảnh hưởng bởi các tiêu chuẩn sắc đẹp của các phương tiện truyền thông đại chúng và sự mong chờ của xã hội nói chung về vóc dáng nên có. Một nghiên cứu còn cho thấy nhiều game thủ không cảm thấy thoải mái với ngoại hình của mình do ảnh hưởng từ những nhân vật có thân hình cơ bắp trong trò chơi[5][6]. Thêm vào đó không ai thỏa mãn với những gì mình có ngay cả khi đã có cơ thể rất ổn điều hay gặp ở những người cầu toàn[7][8], thoạt đầu tưởng như sự không bằng lòng này là động lực tiến bộ nhưng nó là con dao hai lưỡi khi không biết dừng đúng lúc, bởi vì mỗi người đều có giới hạn trong phát triển hệ thống bắp thịt được quy định bởi nhiều yếu tố như gien, chế độ dinh dưỡng và điều kiện tập luyện.


    Chú thích
    ^ Eating disorders: Bigorexia, www.healthyplace.com
    ^ Xu hướng thích cơ bắp thái quá ở đàn ông, vnexpress.net
    ^ Sử dụng steroid có thể dẫn đến tử vong, www.ykhoanet.com
    ^ Phụ nữ thích đàn ông cơ bắp, www.tin247.com
    ^ Game thủ tự ti về ngoại hình không “đô” bằng nhân vật game, gamek.channelvn.net bản dịch tham khảo của Gamers Self-Conscious To “Extreme” Body-Types
    ^ Study: Gamers Self-Conscious To “Extreme” Body-Types, www.endsights.com
    ^ Are You an Exercise Perfectionist?, exercise.about.com
    ^ Quiz: Are You an Exercise Perfectionist?, exercise.about.com

    Xem thêm

    Mặc cảm ngoại hình
    Tự cảm nhận ngoại hình cơ thể
    Người cầu toàn
    Chán ăn tâm thần
    Rối loạn ám ảnh cưỡng chế
    Rối loạn nhân cách ám ảnh cưỡng chế

    nguồn:http://vi.wikipedia.org/wiki/Mặc_cảm_thiếu_cơ_bắp
  5. 13-11-2009, 08:42 AM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 13-11-2009, 08:42 AM
    Bài viết: 41
    ditimchanly is offline
    #5

    Red face Thế nào là một rối loạn tâm lý?

    … Chúng ta đang trên con đường chiến thắng bệnh tật, chết chóc, đau khổ và nghèo đói; nhờ kiến thức khoa học, ta luôn luôn tiến bước về sự thực hiện cái phổ quát trên phương diện vật lý của nó.

    Với tiến bộ ta khám phá ra rằng đau khổ, bệnh tật, bất lực, chẳng phải là những giá trị tuyệt đối, nhưng chỉ là cái hậu quả của điều là cái tôi cá nhân của ta không được hòa đồng với cái tôi vũ trụ của ta.

    Trong đời sống tinh thần của ta cũng vậy. Khi con người cá nhân ở ta nổi lên chống lại cái luật quân bình của con người phổ quát, chúng ta trở thành nhỏ nhen trên phương diện tinh thần và chúng ta phải đau khổ.

    Trong trường hợp này, các thành công của ta lại là những thất bại nặng nề nhất của ta, và sự thực hiện được các ước vọng của ta lại làm ta nghèo đi. Ta thèm khát các lợi riêng cho ta, ta muốn hưởng những đặc quyền mà không ai được chia sẻ với ta.

    Nhưng tất cả những gì là tuyệt đối riêng biệt tất phải thường xuyên xung đột với những gì là phổ quát. Trong cái tình huống nội chiến này, con người lúc nào cũng sống sau các hàng rào phòng ngự. Trong mọi nền văn minh ích kỷ, quê hương ta không còn là quê hương thực, mà là một vòng những hàng rào giả tạo.

    Ấy thế mà ta phàn nàn là không sung sướng, như thể có một cái gì cố hữu trong bản chất thế giới đã làm ta khổ sở! Tinh thần phổ quát chờ ta để mang lại niềm hân hoan cho ta, nhưng tinh thần cá nhân ta lại từ chối không chịu.

    Chính cái đời sống của bản ngã đã gây xung đột và phiền toái khắp nơi, làm sai lệch sự cân đối bình thường của xã hội và phát sinh ra những đau khổ đủ thứ. Nó đưa sự vật đến cái mức mà muốn duy trì trật tự ta phải sử dụng các cưỡng chế giả tạo và những hình thức chuyên chế quy mô, dung túng giữa ta những định chế hiểm độc, làm tủi nhục nhân loại.

    Chúng ta từng thấy rằng muốn mạnh phải tuân phục các định luật của các lực lượng vũ trụ và phải thực hiện công nhận rằng các lực lượng ấy là của chúng ta.

    Cũng vậy, muốn sung sướng, phải bắt ý chí cá nhân chúng ta quy thuận bá quyền của ý chí vũ trụ, và cảm thức thực sự rằng ý chí này chính là ý chí chúng ta.

    Khi ta đạt đến trạng thái mà cái hữu hạn ở ta lại hoàn toàn thích nghi với cái vô hạn, thì đau khổ trở thành một sở hữu quý báu cho ta.

    Bài học quan trọng nhất mà con người khả dĩ học được trong đời sống của mình chẳng phải là có đau khổ trong đời này, mà là có lợi dụng được nó hay không là tùy ở ta, mà là muốn chuyển nó thành hoan hỉ là tùy ở ta.

    Đối với chúng ta, bài học này không phải hoàn toàn đã mất; không có một người nào trên đời này lại muốn mất đi hẳn cái quyền được đau khổ, vì đó cũng là cái quyền của mình được làm người.

    … Sự tự do của con người chẳng hề là muốn trốn tránh các khó khăn, mà là đương đầu với các khó khăn ấy để có lợi cho mình.

    Điều này chỉ có thể thực hiện được khi ta hiểu rằng cái tôi cá nhân của ta chẳng phải là ý nghĩa cao nhất của bản thể ta, và rằng ở ta, có con người vũ trụ vốn dĩ bất diệt. Không sợ chết cũng chẳng sợ đau khổ, và chỉ thấy ở đau khổ một phương diện của niềm vui.

    Khi ta nhận thức được điều này, ta biết rằng đau khổ là cái tài sản thực sự của những con người bất toàn là chúng ta và nó đã làm ta lớn ra và xứng đáng ngồi bên những con người toàn diện.

    Lúc đó chúng ta biết rằng chúng ta không phải là những kẻ hành khất; chúng ta hiểu rằng đau khổ là cái giá phải trả cho bất cứ cái gì có giá trị trong đời sống: quyền năng, minh triết, tình yêu, và sau hết đau khổ là biểu tượng cho khả năng toàn thiện vô biên, cho sự nảy nở đời đời của hoan hỉ.

    Người nào không còn cảm thấy thú vị để chấp nhận đau khổ thì càng ngày càng xuống thấp, xuống tận các vực thẳm không đáy của cùng cực và tàn tạ.

    Chỉ khi nào ta cầu viện đến đau khổ thì đau khổ mới trở thành một tai họa và nó trả thù cái nhục nó đã phải chịu bằng cách xô ta vào cơ cực.

    Thật vậy, nó là cô gái đồng trinh, là nàng trinh nữ hiến thân, phục vụ cho toàn thiện bất diệt, và khi nó đứng đúng chỗ trước bàn thờ của vô tận, nó hất bỏ cái mạng đen che mặt, và phô mặt mình cho kẻ chiêm ngưỡng mình, bộc lộ niềm hoan hỉ tột độ.

    [Tagore, R. Thực nghiệm tâm linh. (2007). Như Hạnh dịch. Hà Nội: Nxb. Văn học, tr. 74- tr.77]


    Nguồn:http://blog.caitoi.info
  6. 30-11-2009, 09:43 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 30-11-2009, 09:43 PM
    Bài viết: 41
    ditimchanly is offline
    #6

    Red face Thế nào là một rối loạn tâm lý?

    Như đã hứa, lần này tôi xin giới thiệu quyển thứ 3 về Duy thức, cuốn này do Thích Trí Trâu biên soạn mang tên DUY THỨC TAM THẬP TỤNG LƯỢC GIẢI. Nếu quyển của Thích Nhất Hạnh đặc biệt dễ tiếp thu, dân dã mà vẫn sâu lắng, cuốn của Thích Tâm Thiện khúc triết khoa học, nói cả tâm lý phương Đông lẫn phương Tây thì cuốn của Trí Trâu lại có cái khả năng giải nghĩa rõ ràng nhiều khái niệm phức tạp của Duy Thức mà ta vẫn còn cảm thấy mù mờ.

    Link down:

    *Bản online: http://www.thuvienhoasen.org/duythucluocgiai-00.htm

    *Bản Word hoặc PDF: http://www.scribd.com/doc/21044140/D...Tung-Luoc-Giai (cần tài khoản để tải - mất chỉ hai phút để tạo tài khoản mới)

    SƠ LƯỢC TIỂU SỬ
    THẦY THÍCH TRÍ CHÂU


    Thầy Thích Trí Châu, pháp danh là Minh Trí, pháp hiệu là Trí Châu, là đệ tử Việt nam duy nhất ở bên Mỹ được truyền thừa dòng thiền Vân Môn từ Thiền Sư Phật Nguyên Diệu Tâm bên Trung Hoa.

    Chuyên thực hành Thiền Tông Trung Hoa, trải nhiều thời gian tu tập tại những thiền đường vắng vẻ, trong núi rừng như Tuyết Sơn Tự và tu viện Long Beach thuộc hệ thống Vạn Phật Thành, tu viện Kim Sơn, thiền viện của Thiền Sư Thánh Nghiêm ở Mỹ; trong rừng Thái Lan thuộc Tăng Đoàn Thiền Lâm Quốc Tế (International Forest Sangha) của hệ thống Ajahn Cha, Ajahn Chan và Ajahn Sumedho; trong thiền đường Mahasi Sayadaw ở Miến Điện; trong các thiền viện Trung Hoa, Hồng Kông và Đài Loan.

    Đã từng tham vấn và tiếp cận rất nhiều thiền sư danh tiếng như Cố Đại Lão Thiền Sư Dharmawara Mahathera (thọ 112 tuổi) người Cam Bốt và Thiền Sư Thánh Nghiêm tại Mỹ Quốc; Cố Hòa Thượng Tâm Cẩn tại chùa Diên Hựu, Thiền Sư Thanh Từ và Thiền Sư Thông Lạc tại Việt Nam; các Thiền Sư Trung Hoa như Thiền Sư Đức Lâm tại Cao Mân Thiền Tự, Thiền Sư Như Thành tại Ngọa Long Thiền Tự, Thiền Sư Nhất Thành tại Nam Hoa Thiền Tư, Thiền Sư Phật Nguyên tại Vân Môn Thiền Tự; Thiền Sư Thánh Nhất tại Bảo Lâm Thiền Tự ở Hồng Kông; Thiền Sư Truyền Bố và Cố Thiền Sư Trí Xuân ở Nam Đầu, Đài Loan....
  7. 30-11-2009, 09:46 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 30-11-2009, 09:46 PM
    Bài viết: 41
    ditimchanly is offline
    #7

    Red face Thế nào là một rối loạn tâm lý?

    Nguyên nhân của sự sợ hãi

    Krishnamurti

    Để hiểu sợ hãi, ta phải nói về sự so sánh trước. Tại sao ta so sánh? Về mặt kỹ thuật, so sánh phát hiện sự tiến triển, tương quan với nhau. Năm chục năm trước chưa có bom nguyên tử, chưa có máy bay siêu âm, bây giờ chúng ta co những cái đó, và trong tương lai năm chục năm nữa, chúng ta sẽ có những cái mà hiện nay chúng ta không có. Cái đó được gọi là sự tiến bộ, luôn luôn so sánh, tương quan, và tâm trí chúng ta bị vướng mắc vào cái lối suy nghĩ kiểu đó. Không phải chỉ từ ngoại cảnh, mà ngay từ trong nội tâm, trong cái cấu trúc về tâm lý của chúng ta, chúng ta suy nghĩ theo kiểu so sánh. Chúng ta nói :" Tôi thế này, trước kia tôi thế này, và tôi sẽ khá hơn trong tương lai". Cái lối suy nghĩ kiểu so sánh như vậy, chúng ta gọi là sự tiến bộ, sự phát triển, và cuộc đời chúng ta, từ phẩm hạnh, đạo đức, tôn giáo cho dến làm ăn buôn bán, giao dịch trong xã hội, chúng ta đều dựa trên nền tảng đó. Chúng ta quan sát bản thân chúng ta một cách so sánh với cái xã hội vốn dĩ cũng thoát thai từ một sự phấn đấu trong so sánh như chính chúng ta.

    So sánh sản sinh ra sợ hãi, bạn hãy tự quan sát sẽ thấy. Tôi muốn trở thành nhà văn viết hay hơn, hoặc trở thành người đẹp và thông minh hơn. Tôi muốn có nhiều kiến thức hơn mọi người. Tôi muốn thành công, muốn trở thành nhân vật quan trọng, muốn có danh tiếng trên thế giới. Thành công và danh tiếng là những điều so sánh rất căn bản về mặt tâm lý, mà do đó, chúng ta liên tục sản sinh ra sự lo sợ . Và sự so sánh cũng làm tăng thêm những mâu thuẫn, phấn đấu vốn được coi như những điều quan trọng.

    Bạn nói rằng bạn phải cạnh tranh để sinh tồn trong cái thế giới này, do đó bạn so sánh và thi đua trong công việc làm ăn, trong gia đình và cái-gọi-là nội dung có tính cách tôn giáo . Bạn phải vào được thiên đường và ngồi ngay bên cạnh Chúa, hoặc một đấng cứu độ đặc biệt nào đó của bạn. Sự so sánh về tâm linh phản ảnh trong sự vị linh mục muốn trở thành giám mục, hoặc hồng y, hay cuối cùng tiến lên tới giáo hoàng. Suốt đời, chúng ta mài miệt trau giồi cái loại tâm linh đó một cách siêng năng, cần mẫn, phấn đấu để khá hơn, hoặc đạt được vị trí cao hơn người khác. Cấu trúc của đời sống xã hội và đạo đức của chúng ta đặt nền tảng trên những cái đó.

    Cho nên trong cuộc đời chúng ta, cái tình trạng so sánh, cạnh tranh và sự phấn đấu không ngừng nghỉ để trở thành một nhân vật hay trở thành người vô danh, thì cũng vậy. Tôi cảm thấy rằng chính cái đó là cội rễ của toàn bộ sự sợ hãi, bởi vì chính nó đã sản sinh ra lòng thèm muốn, tật đố kî, thói ghen tị, căm thù.

    Ở đâu có sự căm thù thì ở đó chắc chắn là không có tình thương yêu và sẽ càng ngày càng tăng thêm sự sợ hãi.

    (Trích On Fear)



    Nguyên nhân căn bản của sợ hãi


    Để thấu triệt cái vấn đề sợ này, bạn phải tiến vào nơi sâu thẳm nhất của nó, bởi vì sự sợ hãi không phải chỉ là một vấn đề hời hợt ở bề ngoài của suy tư. Sợ hãi không chỉ có nghĩa là e ngại người láng giềng, hoặc sợ bị mất việc làm; nó thâm sâu hơn rất nhiều và vì thế muốn hiểu thấu cần phải thăm dò tới tận đáy tâm hồn.

    Muốn tìm hiểu sâu xa, bạn cần một khối óc bén nhậy; và khối óc ấy không được mài cho bén do tranh cãi hoặc lẩn tránh. Người ta phải tìm hiểu vấn đề từng bước một, và do đó sự thấu hiểu toàn bộ cái quá trình đặt tên này là điều rất quan trọng. Khi bạn đặt cho cả một nhóm người cái tên là Hồi giáo, hoặc là cái gì đó tùy ý bạn, tức là bạn đã loại họ ra, không còn phải coi họ như những cá thể, thành ra cái tên gọi, cái từ ngữ , đã ngăn cản không để cho bạn còn đứng trên cương vị một cá nhân, một con người, trong mối liên hệ với những cá nhân, những con người khác. Cùng một cách đó, khi bạn đặt cho cảm giác một cái tên tức là bạn không còn thẩm thấu vào chính cảm giác, bạn không hội nhập trọn vẹn vào cảm giác.

    Có rất nhiều cách để trốn tránh sự sợ hãi; nhưng nếu bạn trốn tránh, bỏ chạy, sự sợ hãi sẽ mãi mãi theo bén gót bạn. Muốn chấm dứt sợ hãi một cách triệt để, bạn phải thấu triệt cái quá trình đặt tên này và nhận ra rằng ngôn từ không bao giờ là sự kiện. Cái tâm phải có khả năng tách rời ngôn từ ra khỏi cảm giác, và không được để cho ngôn từ làm ngăn trở sự trực tiếp nhận thức cảm giác, vốn là chính sự kiện.

    Khi bạn đã đi xa tới mức đó, thẩm thấu sâu tới mức đó, bạn sẽ phát hiện ra rằng chìm trong cõi vô thức, trong cõi u minh thầm kín của tâm hồn, có một cảm giác về nỗi niềm hoàn toàn cô đơn, hiu quạnh, đó chính là nguyên do căn bản của sự sợ hãi. Lại nữa, nếu bạn lẩn tránh nó, nếu bạn muốn thoát khỏi nó, nói rằng nó đáng sợ quá, nếu bạn không đào sâu vào chính nó đồng thời không đặt một cái tên cho no, thì sẽ không bao giờ bạn vượt qua được nỗi sợ hãi. Cái tâm phải trực diện với nỗi niềm hoàn toàn trống vắng, cô đơn, hiu quạnh trong nội tâm, và không tự cho phép làm gì để trốn tránh sự thực.

    Điều đặc biệt được gọi là sự cô độc đó chính là điều rất cốt tủy của bản ngã, cái "tôi", với tất cả mánh lới, sự xảo trá, sự đảo điên của nó, mạng lưới của nó, khiến cho tâm trí bị mắc vào bẫy. Chỉ khi nào cái tâm có khả năng vượt qua được sự cô đơn, hiu quạnh tối hậu ấy thì mới có tự do -- sự tự do tuyệt đối giải phóng hoàn toàn khỏi nỗi sợ hãi. Và chỉ khi đó bạn mới tự thấy được thế nào là thực tại, là cái sức sống vô lượng, vô biên, vô thủy, vô chung.

    Khi mà tư tưởng còn nẩy sinh ra những sự sợ hãi dưới dạng chuyển biến theo thời gian thì nó không có khả năng hiểu được thế nào là phi thời gian.

    Krishnamurti -- Reflections on the Self
    Danny Việt dịch

    Nguồn:http://www.thuvienhoasen.org/krish-n...cuasusohai.htm
  8. 30-11-2009, 09:50 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 30-11-2009, 09:50 PM
    Bài viết: 41
    ditimchanly is offline
    #8

    Red face Thế nào là một rối loạn tâm lý?

    Trầm cảm theo mùa (tiếng Anh: seasonal affective disorder – SAD; winter depression) hay rối loạn cảm xúc theo mùa là một rối loạn khí sắc thường xảy ra vào mùa đông và thu. Thông thường sẽ phục hồi trở lại vào mùa xuân hoặc hè. Bệnh có nhiều đặc điểm chung với trầm cảm như thường xuyên cảm thấy buồn phiền do vậy dễ bị nhầm lẫn với căn bệnh này, đặc điểm khác biệt lớn là trầm cảm theo mùa có tính chất chu kỳ rõ rệt và khi qua khỏi mùa bị ảnh hưởng người mắc lại có sức khỏe tâm lý như bình thường. Trầm cảm theo mùa được cho là có nguyên nhân từ sự thay đổi lượng ánh sáng giữa các mùa.

    Triệu chứng

    Cảm thấy buồn rầu hay ủ rũ, dễ cáu ghắt và lo lắng vào mùa thu hoặc đông
    Giảm sự thích thú với các hoạt động trước đây ưu thích
    Ăn nhiều hơn và thích ăn các thức ăn có nhiều tinh bột như bánh mỳ[1]
    Tăng cân
    Ngủ nhiều hơn và cảm thấy mơ màng trong ngày[2]
    Động tác chậm chạp uể oải[3]
    Các triệu chứng xuất hiện và biến mất vào cùng một thời điểm trong các năm (tính chu kỳ)
    [sửa]Đối tượng có nguy cơ cao

    Ai cũng có thể mắc bệnh nhưng những đối tượng sau đây có nguy cơ cao hơn[2]:
    Người sống ở khu vực mà thời gian có ánh sáng rất ít và có sự thay đổi đột ngột mức độ ánh sáng giữa các mùa trong năm.
    Nữ giới có nguy cơ mắc bệnh cao hơn
    Người ở độ tuổi từ 15 đến 55
    Có người thân từng bị ảnh hưởng của căn bệnh này

    Mức độ phổ biến

    Có khoảng 6% dân số Hoa Kỳ bị ảnh hưởng bởi trầm cảm theo mùa. Tuy nhiên con số bị rối loạn mức độ nhẹ hơn hoặc không thống kê được có thể cao hơn rất nhiều, chiếm từ 10% đến 20%. Trầm cảm theo mùa xảy ra ở cả hai giới, thường thấy ở tuổi vị thành niên và tuổi đôi mươi[3], tuổi càng cao thì nguy cơ càng giảm[4].
    Chữa trị

    Liệu pháp ánh sáng
    Liệu pháp ánh sáng thường được sử dụng để điều trị trầm cảm theo mùa, tuy nhiên cũng như bất kỳ sự điều trị y học nào, chữa bệnh bằng ánh sáng chỉ được tiến hành dưới sự trông nom của bác sỹ. Người bệnh hàng ngày ngồi trước một thiết bị chiếu sáng trong khoảng thời gian 45 phút, thời điểm tiến hành thường là vào buổi sáng, trong thời gian đó cần thường xuyên liếc nhìn thiết bị để ánh sáng có khả năng tác động nhưng không nên nhìn trực tiếp vào đèn trong thời gian quá lâu. Ánh sáng phải được lọc để loại trừ tia cực tím nhằm tránh nguy hiểm[5].Trong trường hợp sử dụng không đúng cách, có thể gặp phải một số tác dụng phụ như mỏi mắt, đau đầu, mệt mỏi, khuyến cáo là không nên sử dụng gần thời gian đi ngủ vì điều này có thể dẫn đến việc khó ngủ. Ngoài ra ở những người nhạy cảm với ánh sáng, da hoặc mắt có thể bị tổn thương, khi ấy thật thận trọng khi phải điều trị với ánh sáng đèn[4]. Để tăng hiệu quả điều trị phải luôn nhớ tiếp xúc với ánh sáng mặt trời khi có thể, chẳng hạn lúc giải trí có thể kéo rằm cửa để ánh sáng đi vào trong phòng[1] tuy vậy nằm phơi nắng không được khuyến khích bởi vì ánh sáng khi phơi nắng thường có nhiều tia cực tím, chúng làm tổn hại đến cả mắt và da[4]. Những biểu hiện tích cực có thể thấy sau vài tuần điều trị nhưng không được tự ý dừng lại, việc dừng vào thời điểm nào phải được sự đồng ý của bác sĩ, thông thường khi chuyển sang mùa xuân hoặc hạ, lượng ánh sáng đủ mạnh thì cũng là lúc điều trị được dừng lại.

    Dùng vitamin D
    Sử dụng vitamin D đem lại hiệu quả tích cực đối với điều trị. Người ta đánh giá rằng có từ 3 đến 5% dân số trưởng thành ở phương Bắc, chủ yếu là phụ nữ bị trầm cảm theo mùa, dường như là do thiếu vitamin D. Nghiên cứu tiến hành trên 97 người có nồng độ vitamin D thấp và có dấu hiệu trầm cảm theo mùa. Trong vòng 3 tháng, các bệnh nhân này được bổ sung vitamin D3 (cholecalciferol). Bệnh nhân nhóm 1 uống 600 UI một ngày, nhóm 2 dùng nhiều hơn gần 7 lần, khoảng 4.000 UI. Kết quả cho thấy cả hai nhóm đều cải thiện sức khỏe tâm lý. Nhóm bệnh nhân dùng liều cao có triệu chứng được cải thiện rõ rệt hơn. Các nhà nghiên cứu khẳng định liều 4.000 UI vitamin D3 được dung nạp tốt về mặt thể lực và an toàn[6].

    Xem thêm

    Trầm cảm
    Trầm cảm sau sinh
    Vitamin D

    Chú thích

    ^ a b Trầm cảm theo mùa cần trị bằng ánh sáng, www.ykhoanet.com
    ^ a b seasonal affective disorder, www.webmd.com
    ^ a b Seasonal affective disorder, www.nlm.nih.gov
    ^ a b c Rối loạn cảm xúc theo mùa, www.ptp.com.vn
    ^ Seasonal Affective Disorder, kidshealth.org
    ^ Những phát hiện mới về vitamin D, www.suckhoe.com.vn

    Nguồn bài viết:http://vi.wikipedia.org/wiki/Trầm_cảm_theo_mùa
  9. 02-12-2009, 09:15 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 02-12-2009, 09:15 PM
    Bài viết: 41
    ditimchanly is offline
    #9

    Default Thế nào là một rối loạn tâm lý?

    Ý NGHĨA CỦA ĐỜI SỐNG

    Hỏi :

    - Chúng ta sống nhưng không biết vì lý do gì mà chúng ta sống. Đối với phần đông chúng ta, đời sống có vẻ như là vô nghĩa. Ông có thể nói cho chúng tôi biết về ý nghĩa và mục đích của cuộc đời chăng?

    Krishnamurti :

    - Thế thì tại sao bạn hỏi câu này? Tại sao bạn lại yêu cầu tôi nói cho bạn biết về ý nghĩa và mục đích của cuộc đời? Chúng ta hiểu như thế nào khi nói "cuộc đời"? Vậy cuộc đời có ý nghĩa, có mục đích chăng? Thế bản thân sự sống này không tự nó có mục đích, có ý nghĩa chăng? Tại sao chúng ta còn muốn hơn thế nữa?

    Bởi vì chúng ta quá bất mãn với đời sống của chúng ta, cuộc đời chúng ta quá vô vị, quá lòe loẹt hào nhoáng thùng rỗng kêu to, quá tẻ nhạt, làm hoài cùng một việc, cho nên chúng ta muốn cái gì hơn thế, cái gì vượt qua những điều chúng ta đang làm. Vì cuộc sống hằng ngày của chúng ta quá trống rỗng, quá trì trệ, quá vô nghĩa, quá nhàm chán, u mê đến mức không còn chịu nổi, nên chúng ta nói rằng cuộc đời phải có ý nghĩa hơn và do đó bạn hỏi tôi câu này. Chắc chắn người có một đời sống nội tâm phong phú, người nhìn sự vật đúng theo thực tế và an lạc với những gì mình có, thì không bị bối rối; anh ta sáng suốt, cho nên anh ta không cần hỏi về mục đích của cuộc đời. Đối với anh ta thì ngay chính bản thân sự sống đã là toàn bộ cuộc hành trình từ khởi đầu tới kết thúc. Điều khó khăn cho chúng ta là, bởi vì cuộc sống của chúng ta quá trống rỗng, nên chúng ta muốn tìm cho nó một mục đích và nỗ lực để làm chuyện đó. Cái loại mục đích này chỉ có thể có trong tư tưởng, không có chút thực tế nào cả; và khi mục đích được theo đuổi bằng một đầu óc khờ ngốc, ù lì, bởi một trái tim rỗng tuếch, thì cái mục đích đó cũng sẽ vô nghĩa mà thôi. Cho nên chúng ta phải có quyết tâm làm thế nào để cho cuộc sống được phong phú, không phải bằng tiền tài vật chất hoặc mọi sự liên quan đến nó, mà là nội tâm phong phú -- điều này không có gì là khó hiểu. . . .

    Đời sống là tương quan giao hảo. Đời sống là hành động trong sự liên hệ; khi tôi không cảm thông được trong mối tương quan giao hảo, hoặc khi mối tương quan bị lộn xộn thì tôi đi tìm một mục đích cao xa hơn. Tại sao cuộc sống của chúng ta lại trống rỗng, vô nghĩa như vậy? Tại sao chúng ta lại cô đơn, chán nản như vậy? Bởi vì chúng ta chẳng bao giờ nhìn vào nội tâm chúng ta và tự hiểu chính mình. Chúng ta không bao giờ chịu tự mình chấp nhận rằng cuộc đời này là tất cả những điều chúng ta biết, do đó, nó đáng được thâm hiểu đầy đủ, trọn vẹn. Chúng ta thích tránh né chuyện tự phán xét mình hơn cho nên chúng ta muốn đi tìm mục đích của cuộc đời bên ngoài mối tương quan liên hệ. Nếu chúng ta bắt đầu hiểu thấu những hành động trong mối liện hệ của chúng ta đối với mọi người, với tài sản, với những niềm tin và tư tưởng, thì chúng ta sẽ thấy được rằng bản thân mối tương quan liên hệ trong cuộc đời sẽ mang đến phần thưởng của chính nó.

    Bạn không cần phải đi tìm. Nó cũng giống như đi tìm lòng thương yêu. Có thể nào nhờ tìm kiếm mà thấy được lòng thương yêu chăng? Lòng thương yêu không thể có được do sự nỗ lực gầy dựng. Bạn sẽ tìm ra lòng thương yêu trong mối dây giao hảo, không ở bên ngoài sự giao hảo, và cũng vì chúng ta không có lòng thương yêu nên chúng ta muốn có một mục đích cho đời sống.
    Khi có lòng thương yêu, điều bản chất vốn là vĩnh cửu, thì sẽ không còn chuyện đi tìm Thượng Đế, bởi vì lòng thương yêu vốn là Thượng Đế. . .

    Krishnamurti -- The First & Last Freedom
    Nguồn: http://www.thuvienhoasen.org/krish-ynghiacuadoisong.htm
  10. 08-12-2009, 09:33 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 08-12-2009, 09:33 PM
    Bài viết: 41
    ditimchanly is offline
    #10

    Default Thế nào là một rối loạn tâm lý?

    Nếu ai mới tìm hiểu về Phật giáo thì có thể tham khảo một số cuốn sau đây, nó được đánh giá là chất lượng, đầy đủ nhưng lại phù hợp với trình độ của đa số mọi người. Tác giả của chúng đều là những người có trình độ uyên thâm trong lĩnh vực của mình, xin mời các bạn tham khảo:

    1.Tinh hoa và sự phát triển của đạo Phật:

    *Đọc trực tuyến:http://www.thuvienhoasen.org/tinhhoa...daophat-00.htm

    *Tải cả quyển:http://www.scribd.com/doc/15315399/T...n-cua-Dao-Phat

    2."Ðức Phật lịch sử" là một công trình nghiên cứu sâu sắc do tiến sĩ H. W. Schumann, nhà Ấn Ðộ học người Ðức viết đầu thập niên 90, sau 17 năm sống tại Ấn Ðộ để nghiên cứu đạo Phật và du hành khắp vùng đã in dấu chân hoằng hóa của đức Phật cách đây 25 thế kỷ. Quả thực đây là một cuốn lịch sử đầy đủ về chính bản thân Phật tổ với rất nhiều chi tiết riêng tư, người đọc cảm thấy mình tiếp xúc với một con người biết tự điều phục chứ không phải là một vị thánh xa lạ. Nó cũng đi sâu vào những thời điểm quan trọng nhất của Giáo đoàn trong những năm đầu được thành lập. Do đề cập đến rất nhiều địa danh, cuốn sách này đã được bổ sung thêm hình ảnh để người đọc dễ tiếp nhận, một số được lấy từ trang www.mapofindia.com và một số trang chuyên về bản đồ khác.

    ------------
    Link tải:

    1. PDF: nhấn vào liên kết này (khoảng 3 Mb):

    http://www.megaupload.com/?d=IJ2OB767

    2. Word hoặc pdf: nhấn vào liên kết này (phải mở tài khoản mới tải về được – mất hai phút để hoàn thành việc này) – file word khoảng 10 Mb:

    http://www.scribd.com/doc/15749671/Duc-Phat-Lich-Su

    3.Đọc trực tuyến: http://www.quangduc.com/DucPhat/35dpls-00.html
  11. 11-12-2009, 10:28 AM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 11-12-2009, 10:28 AM
    Bài viết: 41
    ditimchanly is offline
    #11

    Red face Thế nào là một rối loạn tâm lý?

    Sự thật 1: Khoảng 1/2 các rối loạn tâm thần bắt đầu từ trước lứa tuổi 14. Khoảng 20% trẻ em và thanh thiếu niên trên thế giới được tiên lượng là có rối loạn hay vấn đề về tâm thần. Tuy nhiên, các khu vực có tỷ lệ dân số dưới 19 tuổi cao nhất lại là nơi có các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần nghèo nàn nhất. Hầu hết các nước có thu nhập trung bình và thấp chỉ có 1 bác sỹ tâm thần nhi cho từ 1 đến 4 triệu người.

    Sự thật 2: Trầm cảm có đặc trưng là buồn chán kéo dài kèm theo các triệu chứng về hành vi, tâm lý và cơ thể. Trầm cảm được xếp là nguyên nhân quan trọng hàng thứ bảy trong gánh nặng bệnh tật ở các nước có thu nhập trung bình và thấp, vì trầm cảm có xu hướng gây mất hoạt năng, tái diễn hoặc kéo dài, và thường không được điều trị. Trầm cảm là nguyên nhân hàng đầu trong gánh nặng bệnh tật ở Brazil và nguyên nhân thứ hai gây bệnh cho nữ giới ở Chile.

    Sự thật 3: Trung bình có khoảng 800.000 người tự tử mỗi năm, 86% trong số họ thuộc các nước có thu nhập trung bình và thấp. Hơn một nửa trong số họ tự sát ở lứa tuổi 15 - 44. Tỷ lệ tự tử cao nhất được phát hiện thấy ở nam giới các nước Đông Âu. Rối loạn tâm thần là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra tự tử.

    Sự thật 4: Trong các trường hợp cấp cứu, số lượng những người có rối loạn tâm thần là ước tính là từ 6 - 11%. Ngoài rối loạn tâm thần, những người trong tình huống cấp cứu cũng thường gặp phải những vấn đề về tâm lý xã hội không được để ý đến.

    Sự thật 5: Rối loạn tâm thần là một trong những yếu tố nguy cơ đối với các bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm. Nó cũng gây ra những tổn thương có chủ ý hoặc không có chủ ý. Đồng thời, nhiều tình trạng sức khỏe cũng làm gia tăng nguy cơ mắc rối loạn tâm thần, và gây phức tạp cho việc chẩn đoán và điều trị. Ví dụ, béo phì có liên quan đáng kể trong trầm cảm, rối loạn lưỡng cực và rối loạn hoảng sợ.

    Sự thật 6: Định kiến về rối loạn tâm thần và phân biệt đối xử đối với bệnh nhân và gia đình người bệnh gây cản trở việc tìm kiếm các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần. Ở Nam Phi, một cuộc khảo sát cho thấy hầu hết mọi người nghĩ rằng bệnh tâm thần có liên quan đến stress hoặc thiếu ý chí hơn là những rối loạn bệnh thực sự. Trái với mong đợi, định kiến còn ở mức độ cao hơn trong các khu vực đô thị và những người có trình độ học vấn.

    Sự thật 7: Hành vi vi phạm quyền con người của bệnh nhân tâm thần được báo cáo tại hầu hết các quốc gia. Chúng bao gồm sự hạn chế, giam giữ về mặt cơ thể, từ chối những nhu cầu thiết yếu và riêng tư. Ít các quốc gia có khung pháp lý phù hợp để bảo vệ cho các quyền của người dân mắc rối loạn tâm thần.

    Sự thật 8: Có sự bất công lớn trong việc phân phối các nguồn nhân lực có tay nghề cao đối với sức khỏe tâm thần trên toàn thế giới. Tình trạng thiếu các bác sỹ tâm thần, y tá tâm thần, nhà tâm lý học và các cán sự xã hội là một trong những rào cản chính để cung cấp các dịch vụ chăm sóc và điều trị ở các nước có mức thu nhập trung bình và thấp. Các nước thu nhập thấp có 0,05 bác sỹ tâm thần và 0,16 y tá tâm thần trên 100.000 dân, thấp hơn 200 lần so với các nước có thu nhập cao.

    Sự thật 9: Để tăng tính hiệu quả của dịch vụ sức khỏe tâm thần, có năm rào cản quan trọng cần phải được khắc phục: thiếu vắng vấn đề sức khỏe tâm thần trong các chương trình về sức khỏe cộng đồng và nguồn tài trợ; cách tổ chức hiện thời của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần; thiếu sự phối hợp với dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu; không đủ nguồn nhân lực cho lĩnh vực sức khỏe tâm thần; và thiếu sự lãnh đạo trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần.

    Sự thật 10: Chính phủ các nước, các nhà tài trợ và các nhóm đại diện cho nhân viên chăm sóc sức khỏe tâm thần, bệnh nhân và gia đình của họ cần phải làm việc cùng nhau để tăng cường các dịch vụ sức khỏe tâm thần, đặc biệt là ở các nước có thu nhập trung bình và thấp. Các nguồn tài chính cần thiết là tương đối khiêm tốn: 2 đôla Mỹ cho mỗi người năm ở các nước có thu nhập thấp và 3-4 đôla Mỹ ở nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp.

    (nguồn WHO)

    Link:http://nimh.gov.vn/content/view/74/42/lang,vn/
  12. 11-12-2009, 08:35 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 11-12-2009, 08:35 PM
    Bài viết: 41
    ditimchanly is offline
    #12

    Sun Thế nào là một rối loạn tâm lý?

    Tài liệu này được cung cấp bởi VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN QUỐC GIA (http://nimh.gov.vn) , chủ yếu là các luận văn, rất chuyên sâu, đầy đủ thông tin nhưng không quá khó để hiểu. Các tài liệu gồm có:

    *Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn cơ thể hóa-BSNT

    *Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng trầm cảm trong rối loạn cảm xúc lưỡng cực-

    *Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn giấc ngủ trong các rối loạn liên quan stress

    *Đánh giá hiệu quả can thiệp rối loạn trầm cảm tại cộng đồng-BSCKII

    *Đặc điểm lâm sàng hoang tưởng và ảo giác ở BN rối loạn trầm cảm nặng có loạn thần-BSCKII

    *Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của Rối loạn phân ly vận động và cảm giác

    *Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của ảo giác trong loạn thần do rượu

    Vào liên kết dưới đây để tải tài liệu về:http://nimh.gov.vn/content/blogsection/4/29/lang,vn/
  13. 13-12-2009, 09:00 AM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 13-12-2009, 09:00 AM
    Bài viết: 41
    ditimchanly is offline
    #13

    Lightbulb Thế nào là một rối loạn tâm lý?


    I- KHÁI NIỆM CHUNG VỀ STRESS

    Nguồn:http://blog.timnhanh.com/toxuanlan/c....35A602B4.html

    - Stress là một thuật ngữ tiếng Anh được dùng trong vật lý học để chỉ một sức nén mà vật liệu phải chịu đựng.

    - Đến thế kỷ thứ 17 stress từ ý nghĩa sức ép trên vật liệu được chuyển sang dùng cho người với ý nghĩa một sức ép hay một xâm phạm nào đó tác động vào con người gây ra một phản ứng căng thẳng.

    - Hiện nay stress là một thuật ngữ được dùng rộng rãi. Tuy nhiên nhiều tác giả sử dụng với những sắc thái khác nhau. Theo Hans Selye: "Stress là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng".

    Theo J.Delay: "Stress là một trạng thái căng thẳng cấp diễn của cơ thể buộc phải huy động các khả năng phòng vệ để đối phó với một tình huống đang đe doạ".

    - Hiểu khái niệm chung về stress cho cả hai ý nghĩa bao gồm:

    1. Tình huống stress dùng để chỉ tác nhân xâm phạm hay kích thích gây ra stress (stresseur).

    2. Đáp ứng stress dùng để chỉ trạng thái phản ứng với stress (reaction).

    - Stress bình thường là một tình huống stress nhẹ, đối tượng chịu đựng được và phản ứng thích nghi tốt. Đối tượng thu xếp được cân bằng mới thoả đáng.

    - Stress trở nên bệnh lý khi tình thuống stress xuất hiện bất ngờ và quá mạnh hoặc không mạnh nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần vượt quá khả năng chịu đựng của đối tượng gây ra các rối loạn cơ thể, tâm thần và ứng xử gọi là các rối loạn liên quan stress (RLLQS).

    * Cơ chế gây bệnh của stress:

    Hàng ngày, hàng giờ mỗi cá nhân trong xã hội phải chịu tác động của nhiều loại stress. Ví dụ: điều kiện sống khó khăn, làm việc quá tải và căng thẳng, thất vọng trong sự nghiệp, mâu thuẫn trong gia đình, vợ chồng, con cái, mâu thuẫn với hàng xóm, với đồng nghiệp v.v...

    Tuy nhiên stress có gây bệnh hay không còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố phức tạp. Có hai nhân tố chính là: đặc điểm gây bệnh của stress và sức chống đỡ của nhân cách.

    a) Đặc điểm gây bệnh của stress:

    - Stress gây bệnh thường là những stress mạnh và cấp diễn (người thân chết đột ngột, tổn thất về kinh tế nặng nề). Có những stress tuy không mạnh và cấp diễn nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần gây căng thẳng nội tâm cũng có khả năng gây bệnh.

    - Thành phần gây bệnh của stress là ý nghĩa thông tin chứ không phải là cường độ của stress (ý nghĩa gây bệnh của đám cháy không phải là cường độ ngọn lửa mà là giá trị của tài sản bị thiêu huỷ và hậu quả cụ thể đối với mỗi cá nhân).

    - Những stress gây xung đột nội tâm làm cho cá nhân không tìm được lối thoát cũng thường gây bệnh (một đôi vợ chồng mâu thuẫn gay gắt và kéo dài nhưng không thể ly dị được vì đang còn lo nghĩ về những đứa con).

    - Stress đập vào cá nhân thường gây bệnh nhiều hơn stress đập vào một cộng đồng (cơ chế chia sẻ gánh nặng, nỗi buồn).

    b) Sức chống đỡ của nhân cách:


    - Nếu đối tượng nhận thức tình huống stress không nguy hiểm và có thể chống đỡ được thì sẽ có một phản ứng thích hợp bình thường. Ngược lại nếu đối tượng nhận thức tình huống là nguy hiểm và không thể chống đỡ được thì sẽ xuất hiện một phản ứng bệnh lý.

    - Cảm xúc không ổn định, lo âu, căng thẳng, né tránh cũng là những nét nhân cách dễ bị tổn thương.

    - Cùng một phản ứng stress tuỳ theo phương thức phản ứng của đối tượng mà có thể biểu hiện bệnh lý khác nhau: lo âu, trầm cảm, khó thở, rối loạn tiêu hoá, cao huyết áp v.v...

    - Những nét nhân cách sau đây dễ bị tổn thương: dễ xúc động, khó làm chủ bản thân, bi đát các tình huống stress; đánh giá cao các khó khăn và đánh giá thấp bản thân.

    - Những nét nhân cách sau đây có sức chống đỡ với stress: sớm làm chủ được tình huống stress, có ý chí và tinh thần trách nhiệm, có khả năng thích nghi, mềm dẻo.

    c) Môi trường và nhân cách tác động qua lại cảm ứng lẫn nhau rất mật thiết, khi cảm ứng những nét tiêu cực có thể gây ra trạng thái bệnh lý tập thể, khi cảm ứng những nét tích cực thì mỗi nhân cách trong tập thể lại được tăng thêm sức mạnh để chống đỡ stress.

    d) Cơ thể khoẻ mạnh hỗ trợ tốt cho nhân cách chống đỡ với stress.

    II- QUAN NIỆM VÀ PHÂN LOẠI CÁC RỐI LOẠN LIÊN QUAN ĐẾN STRESS


    Người đầu tiên đưa ra thuật ngữ tâm căn (neurosis, nevrose) là William Cullen (1769). Neurosis của Cullen bao gồm nhiều trạng thái bệnh lý khác nhau, có chung một chẩn đoán âm tính là: không có sốt, không có tổn thương khu trú. Nó là biểu hiện của rối loạn hệ thần kinh gây trở ngại chủ yếu đến cảm giác và vận động.

    Thuật ngữ neurosis được nhiều nhà tâm thần học sử dụng, nhưng mỗi tác giả lại đưa ra những quan niệm riêng của mình.

    1. Quan niệm và phân loại neurosis của học thuyết phân tâm (Freud):


    Xuất phát từ lý thuyết về ưu thế của vô thức trong hoạt động tâm thần với thành phần chủ yếu là bản năng tình dục. Freud chia ra 2 loại neurosis chính: Neurosis hiện thời và neurosis chuyển di (tức là chuyển từ những xung đột vô thức thành những triệu chứng neurosis). Freud còn đưa ra loại neurosis tự yêu, khác với neurosis chuyển di ở chỗ xung đột vô thức không chuyển di được, cố định vào bản ngã.

    Học thuyết phân tâm về neurosis ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm của các nhà tâm thần học trên thế giới, đặc biệt ở các nước phương Tây trong gần nửa đầu của thế kỷ 20.

    2. Quan niệm và phân loại neurosis của học thuyết Paplov:


    Paplov cho rằng neurosis xuất hiện do sự mất thăng bằng của hai quá trình hưng phấn và ức chế trong hoạt động của vỏ não, trên những loại hình thần kinh đặc biệt: tâm căn Hysteria trên loại hình thần kinh nghệ sĩ yếu, tâm căn suy nhược tâm thần (Psychasthenia) trên loại hình thần kinh lý trí yếu, tâm căn suy nhược trên loại hình thần kinh trung gian yếu.

    Học thuyết Paplov về neurosis có ảnh hưởng lớn đến các nhà tâm thần học ở các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa cũ trong gần nửa thế kỷ trước đây.

    Ở nước ta, trước khi có ICD.10, chủ yếu áp dụng cách phân loại của Liên Xô cũ và các rối loạn có liên quan stress được áp dụng trong lâm sàng tâm thần học gồm có:

    - Tâm căn suy nhược

    - Tâm căn Hysteria

    - Tâm căn ám ảnh

    - Tâm căn suy nhược tâm thần

    - Các bệnh cơ thể tâm sinh

    - Các trạng thái loạn thần phản ứng.

    3. Quan niệm và phân loại neurosis của học thuyết tập tính hay hành vi:


    - Dựa vào những thành công trong thực nghiệm về neurosis, học thuyết tập tính cho rằng các triệu chứng neurosis là những tập tính đã bị thâm nhiễm trong quá trình đáp ứng lại những kích thích của môi trường trong cơ chế khái quát hoá kích thích ban đầu, các tập tính này có thể làm mất đi bằng những phương pháp khử tập nhiễm.

    - Học thuyết tập tính không đưa ra cách phân loại riêng về neurosis, không quan tâm đến cơ chế bệnh nguyên, bệnh sinh, chỉ quan tâm đến cơ chế tập nhiễm và các phương pháp khử tập nhiễm.

    Học thuyết tập tính đã chiếm ưu thế ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở Mỹ trong cuối thế kỷ 20.

    4. Quan niệm và phân loại neurosis của ICD.8:


    ICD.8 vốn dùng thuật ngữ neurosis và quan niệm truyên thống về neurosis. Trong bảng phân loại, chủ yếu có 7 loại neurosis (xem bảng 1: so sánh ICD.8 với ICD.9)



    300.
    Neurosis

    300.
    Các rối loạn tâm căn

    (Neurosis disorders)

    300.0
    Neurosis lo âu
    300.0
    Các trạng thái lo âu

    300.1
    Neurosis Hysteria
    300.1
    Hysteria

    300.2
    Neurosis ám ảnh sợ

    Sợ khoảng rộng

    Lo âu - Hysteria
    300.2
    Trạng thái sợ - ám ảnh

    Sợ khoảng rộng

    Lo âu - Hysteria

    300.3
    Nuerosis ám ảnh cưỡng bức
    300.3
    Rối loạn ám ảnh cưỡng bức

    300.4
    Neurosis trầm cảm
    300.4
    Trầm cảm tâm căn

    Trầm cảm lo âu

    Trầm cảm phản ứng

    300.5
    Tâm căn suy nhược
    300.5
    Tâm căn suy nhược (SNTK)

    300.6
    Hội chứng giải thể nhân cách
    300.6
    Hội chứng giải thể nhân cách

    300.7
    Neurosis nghi bệnh
    300.7
    Nghi bệnh

    300.8
    Các rối loạn Neurosis khác
    300.8
    Các rối loạn tâm căn khác

    300.9
    Neurosis không biệt định
    300.9
    Không biệt định



    Bảng 1: so sánh ICD.8 với ICD.9



    5. Quan niệm và phân loại neurosis của ICD.9:

    - ICD.9 bắt đầu thay thuật ngữ neurosis bằng từ rối loạn tâm căn hoặc bằng trạng thái (trạng thái lo âu, trạng thái ám ảnh).

    - ICD.9 đã bắt đầu theo hướng mô tả triệu chứng thuần tuý không đề cập đến các quan niệm khác nhau nằm sau từ neurosis.

    - ICD.9 vẫn giữ 7 loại neurosis truyền thống theo mã 300.

    - ICD.9 chưa có các tiêu chuẩn chẩn đoán kèm theo các rối loạn hay trạng thái của neurosis và tập hợp các rối loạn tâm căn vào một chương riêng, mã 300. (xem bảng 1: so sánh ICD.8 với ICD.9).

    6. Quan niệm và phân loại neurosis của ICD.10:


    Các tác giả biên soạn tập ICD.10 thận trọng hơn trong việc sử dụng thuật ngữ, không gọi các rối loạn do stress mà chỉ gọi là các rối loạn có liên quan đến stress (RLLQS).

    Trong ICD.10 các rối loạn có liên quan đến stress được phân loại ở các chương F4, F5, F9 mà chủ yếu ở chương F4.

    a) Chương F4, ICD.10:


    - Các rối loạn bệnh tâm căn (neurosis) như lo âu, ám ảnh, phân ly v.v...

    Trong các rối loạn tâm căn này, nhân cách có vai trò quan trọng hơn stress.

    - Các rối loạn dạng cơ thể: ICD.10 dùng thuật ngữ rối loạn dạng cơ thể chỉ một số các rối loạn trước kia gọi là rối loạn tâm thể (Psycho-somatic).

    Đó là:

    · Các rối loạn cơ thể hoá F45.0

    · Các rối loạn dạng cơ thể không biệt định F45.1

    · Các rối loạn chức năng thần kinh tự trị dạng cơ thể F45.3

    . Các phản ứng với stress trầm trọng (F43.0)

    Các phản ứng này bao gồm:

    · Phản ứng stress cấp F43.0

    · Rối loạn stress sau sang chấn F43.1

    · Các rối loạn sự thích ứng F43.2

    Đây là những rối loạn có liên quan chặt chẽ nhất và trực tiếp nhất với stress. Các đặc điểm cơ bản của các phản ứng này là: Các rối loạn làm phát sinh do hậu quả trực tiếp của stress, stress gây bệnh là những stress trầm trọng hoặc tác động liên tục; rối loạn không xảy ra nếu không có tác động của stress.

    b) Chương F5, ICD.10:


    Các rối loạn hành vi và cảm xúc khởi phát ở trẻ em và thanh thiếu niên có liên quan đến stress: rối loạn hành vi do cảm xúc, rối loạn lo âu - ám ảnh, không nói chọn lọc, rối loạn vận động Tic, đái dầm, nói lắp, rối loạn ăn uống v.v... Một số trong các rối loạn này trước kia gọi là các bệnh tâm căn đơn chứng ở trẻ em.

    Các rối loạn này có liên quan nhiều đến đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em như: nhân cách chưa hoàn chỉnh, sức chống đỡ chưa vững vàng, khó kiềm chế bản thân, dễ bị ám thị, dễ bị tổn thương, lo âu sợ hãi trước kích thích lạ. Những rối loạn này ở trẻ em khó đánh giá vai trò của stress trong chơ chế sinh bệnh.

    * ICD.10 khác với ICD.9 ở chỗ:

    - ICD.10 không những bỏ thuật ngữ neurosis mà còn bỏ cả ranh giới cổ điển của neurosis, cho hoà nhập các rối loạn tâm căn với các rối loạn tâm sinh khác.

    - ICD.10 không tuân theo các mã của ICD.9 mà dùng một hệ thống mã khác.

    - ICD.10 đưa thêm vào chương F4 nhiều rối loạn chưa được ghi trong ICD.9 và thêm các mục nhỏ. Một số rối loạn tâm căn trong ICD.9 thành những mục riêng nhưng trong ICD.10 trở thành những rối loạn thứ yếu, những mục nhỏ nằm trong mục các rối loạn khác.

    - Các rối loạn có liên quan đến stress trong ICD.10 được xếp vào các chương mục phần F của ICD.10 và mỗi rối loạn đều kèm theo những tiêu chuẩn chẩn đoán chặt chẽ.

    Ở nước ta ngành Tâm thần thống nhất trong cả nước lấy ICD.10 làm cơ sở cho tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh ở bệnh viện cũng như ở cộng đồng.

    III- ĐIỀU TRỊ CÁC RỐI LOẠN LIÊN QUAN ĐẾN STRESS:


    A. Nguyên tắc chung:


    Stress gây nhiều rối loạn sinh học, thần kinh, tâm thần và cơ thể cho nên phải điều trị toàn diện và kết hợp nhiều liệu pháp lấy liệu pháp tâm lý là chủ yếu:

    + Liệu pháp tâm lý thích hợp

    + Điều trị bằng các thuốc hướng thần

    + Vitamine, chất khoáng

    B. Điều trị cụ thể:





    1. Điều trị bằng liệu pháp tâm lý:


    - Liệu pháp thư giãn: nhằm tạo ra một đáp ứng sinh lý để đối kháng lại phản ứng stress. Thư giãn có thể làm giảm nhịp tim, nhịp thở, giảm mức tiêu thụ oxy, giảm huyết áp, giảm lưu lượng máu nội tạng có lợi cho các cơ ở ngoại biên.

    Thư giãn cũng làm giảm căng thẳng của cơ trơn và cơ vòng.

    - Liệu pháp tập tính: Điều trị tập tính bao gồm việc đánh giá các rối loạn chức năng, đề xuất các mục tiêu và phương pháp điều trị đặc biệt.

    a. Điều chỉnh lại cách sống: phải làm cho đối tượng ý thức rõ rệt lợi ích của sự cân bằng hài hoà giữa hoạt động và thư giãn để tăng cường sức đề kháng với stress.

    b. Khẳng định bản thân: Giúp bệnh nhân làm chủ được tình huống, cho bệnh nhân tập đối phó lại với các tình huống stress.

    - Liệu pháp nhận thức: chú trọng đến cách đánh giá chủ quan của người bệnh về tình huống stress, đặc biệt xử lý thông tin nhằm xác định rõ hoàn cảnh đưa đến tình huống stress, đồng thời đánh giá khả năng đương đầu với stress của người bệnh một khi đã xác định các sai lệch chủ yếu, để tìm cách điều chỉnh chung.

    Mục tiêu là chỉnh đốn lại các nhận thức giúp bệnh nhân tiến bộ xử lý các thông tin trước một tình huống stress, làm cho quá trình thích nghi tốt hơn tức là tăng cường khả năng đương đầu với stress.

    2. Điều trị bằng các thuốc hướng thần:


    - Các thuốc giải lo âu: dùng để điều trị dự phòng các trường hợp lo âu xuất hiện sớm do các tình huống stress gây ra. Với các phản ứng stress cấp, thuốc giải lo âu làm giảm cường độ và rút ngắn thời gian biểu hiện stress. Với các stress kéo dài thuốc giải lo âu làm giảm các triệu chứng do dó giúp cải thiện khả năng giao tiếp.

    - Các thuốc chống trầm cảm: dùng để điều trị dự phòng nhằm tránh các cơn stress tái phát dưới dạng gia tăng lo âu, còn được dùng để phòng ngừa một số phản ứng ám ảnh sợ của stress. Trong stress bệnh lý kéo dài xuất hiện trầm cảm rõ rệt, dùng thuốc chống trầm cảm ngay từ khi chúng vừa mới xuất hiện.

    - Các thuốc chẹn beta: điều trị dự phòng các cơn lo âu đến trước của stress, các thuốc chẹn beta có tác dụng làm giảm các triệu chứng thần kinh thực vật của tim, do đó tránh hay giảm một cách gián tiếp lo âu tâm thần.

    3. Các thuốc đặc hiệu:


    Ví dụ các thuốc chống loét trong các chứng loét dạ dày do stress.

    4. Các thuốc bổ sung khoáng chất và vitamin:


    + Magnesium (Mg): lợi ích của Mg trong việc cân bằng hoạt động của các nơron đặc biệt trong hoạt động của các acid amin gây kích thích.

    + Calcium (Ca): tham gia vào các trao đổi ion khi co cơ và giãn cơ cũng như trong quá trình kiểm soát kích thích thần kinh cơ.

    + Các vitamin: đặc biệt là vitamin nhóm B tham gia vào các giai đoạn chuyển hoá năng lượng, vitamin C cũng giữ vai trò tổng hợp cortisol. Vitamin còn tăng khả năng sức đề kháng của cơ thể.

    5. Glucocorticoid:


    Làm tăng khả năng đề kháng sinh lý của chủ thể đối với stress.

    IV- PHÒNG TRÁNH CÁC RỐI LOẠN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN STRESS VÀ CÁC TÁC HẠI CỦA NÓ:


    1. Môi trường và các hoạt động xã hội luôn luôn phát sinh ra những tình huống stress. Vì vậy cần cải thiện điều kiện cải thiện sinh hoạt và lao động. Cần loại trừ tác động của stress trường diễn, cải thiện mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, tập thể, cơ quan, giảm kích thích xấu trong đời sống hàng ngày. Lao động trí óc xen kẽ với lao động chân tay, phổ biến rộng rãi vệ sinh phòng bệnh tâm thần để các thành viên trong cộng đồng biết cách đảm bảo môi trường ít gây ra tình huống stress.

    2. Vai trò của nhân cách rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển các rối loạn liên quan đến stress. Stress có gây ra bệnh hay không phụ thuộc chủ yếu vào nhân cách. Một nhân cách mạnh thì sang chấn tâm thần ác liệt đến đâu cũng mất tính gây bệnh, ngược lại một nhân cách yếu có thể bị bệnh dưới tác dụng của một sang chấn nhẹ. Vì vậy cần có biện pháp bồi dưỡng nhân cách, tuyên truyền giáo dục cho các bậc cha mẹ biết cách giáo dục con cái từ bé để hình thành một nhân cách vững mạnh có nhiều tính cách tốt như: chịu đựng gian khổ, kìm chế bản thân, có ý chí và tinh thần trách nhiệm, có khả năng thích nghi mềm dẻo.

    3. Bồi dưỡng cơ thể khoẻ mạnh để tăng sức đề kháng của cơ thể chống đỡ với stress. Vì vậy hàng ngày cần tập thể dục, thể thao, ăn uống điều độ, điều hoà hợp lý giữa lao động và giải trí... để luôn luôn khoẻ mạnh về thể chất và tâm thần.

    V- TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC RỐI LOẠN LIÊN QUAN ĐẾN STRESS Ở NƯỚC TA:


    1. Những khó khăn và hạn chế:


    - Bệnh học tâm thần các RLLQS là rất phức tạp, triệu chứng học xen kẽ lẫn nhau và rất khó tách biệt.

    - Bệnh nhân có các RLLQS phần lớn ban đầu thường đến khám và điều trị tại các cơ sở lâm sàng các chuyên khoa khác, khi đến chuyên khoa tâm thần thì đã quá muộn, điều trị gặp nhiều khó khăn, hiệu quả chưa cao.

    - Các trắc nghiệm tâm thần và các liệu pháp tâm lý chưa được áp dụng rộng rãi trong các cơ sở lâm sàng tâm thần học nước ta.

    - Kiến thức và kỹ năng áp dụng các liệu pháp tâm lý của các thầy thuốc chuyên khoa còn yếu kém. Vì vậy trong thực hành lâm sàng thường thích dùng thuốc, ngại sử dụng các liệu pháp tâm lý.

    - Điều tra dịch tễ các rối loạn có liên quan đến stress cũng gặp khó khăn vì tính cách người Việt Nam không muốn cởi mở những vấn đề nội tâm cho người khác, đặc biệt vấn đề về sức khoẻ tâm thần.

    2. Những thuận lợi bước đầu:


    - Mạng lưới ngành tâm thần phát triển rộng khắp trong cả nước, đội ngũ làm công tác chăm sóc sức khoẻ tâm thần ngày càng được nâng cao cả về số lượng và chất lượng.

    - Việc tiếp cận và giao lưu với các nhà khoa học trên thế giới và việc áp dụng bảng phân loại quốc tế ICD.10 thông qua các cuộc hội thảo, trao đổi chuyên môn, tài liệu và giảng dạy đã nâng cao dần nhận thức về bệnh học tâm thần, về kỹ năng áp dụng các trắc nghiệm tâm lý.

    - Những kết quả nghiên cứu bước đầu về sơ kết lâm sàng, chăm sóc sức khoẻ ban đầu, về điều trị đã mở ta những triển vọng mới cho sự phát triển lĩnh vực phức tạp này ở nước ta.

  14. 13-12-2009, 09:18 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 13-12-2009, 09:18 PM
    Bài viết: 41
    ditimchanly is offline
    #14

    Hoa Thế nào là một rối loạn tâm lý?

    Rối loạn lo âu lan tỏa (tiếng Anh: generalized anxiety disorder) là một dạng trong nhóm bệnh rối loạn lo âu có đặc điểm cơ bản là sự lo âu lan tỏa và dai dẳng đồng thời không giới hạn và nổi bật trong bất cứ tình huống đặc biệt nào[1]. Triệu chứng thể chất thường đi kèm với lo âu bao gồm bất an, run rẩy, căng thẳng bắp thịt, vã mồ hôi, choáng váng, hồi hộp, chóng mặt, đầu óc trống rỗng, đánh trống ngực, khó chịu ở vùng bụng, khó nuốt, buồn nôn, tính tình trở nên cáu kỉnh. Tuy nhiên cần thấy được sự khác nhau giữa lo âu thông thường và lo âu bệnh lý. Khi cảm thấy lo âu rất nhiều mà không do nguyên nhân nào rõ rệt, không còn khả năng tự kiểm soát được bản thân, lo âu làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống hàng ngày thì đó là bệnh lý[2]. Cần phân biệt rối loạn lo âu lan tỏa với các rối loạn lo âu khác vì chúng thường có một số điểm chung dễ gây nhầm lẫn. Ám ảnh sợ xã hội, ám ảnh sợ khoảng trống, ám ảnh sợ chuyên biệt đều có đặc điểm chung là tình huống gây lo âu đều cụ thể trong một hoặc một nhóm hoàn cảnh, đối tượng nhất định trong khi đó rối loạn lo âu lan tỏa không khu trú ở một tình huống cụ thể nào, cái tên "lan tỏa" của nó cũng bắt nguồn từ tính chất này. Bệnh còn có tên khác là rối loạn lo âu toàn thể.

    Vấn đề

    "Tôi nghĩ rằng mình là người hay lo lắng, tôi không thể thư giãn. Tôi có các vấn đề nghiêm trọng về giấc ngủ, có những lần thức dậy lúc nửa đêm. Tôi chú ý vào lo lắng ngay cả khi đọc báo hoặc một cuốn tiểu thuyết. Đôi khi cảm thấy đầu óc mình hơi quay cuồng. Tim tôi đập nhanh thình thịch. Và điều đó làm cho lo lắng nhiều hơn nữa. Tôi luôn luôn tưởng tượng ra những điều tồi tệ hơn sự thực. Khi đau bụng, tôi nghĩ rằng đã có một vết loét trong bụng mình. Khi vấn đề của tôi đã quá nghiêm trọng, tôi không theo được công việc và cảm thấy điều đó thật khủng khiếp. Sau đấy, tôi lo lắng bị mất việc làm. Cuộc sống thật khổ sở cho đến khi tôi chấp nhận điều trị[3]."

    Tâm sự của một bệnh nhân

    Với những người bị rối loạn lo âu lan tỏa, mỗi ngày diễn ra họ đều phải trải qua cảm xúc lo lắng và căng thẳng quá mức, mặc dù có rất ít hoặc không có vấn đề nghiêm trọng nào. Họ hay dự đoán các sự kiện bất trắc và quá quan tâm đến các vấn đề sức khỏe, tiền bạc, gia đình, hoặc khó khăn trong công việc... Khi mức độ lo lắng ở tầm vừa phải, người mắc rối loạn lo âu lan tỏa có thể đảm bảo chức năng xã hội và giữ một công việc bình thường. Tuy nhiên người bệnh sẽ gặp khó khăn thậm chí trong việc thực hiện các hoạt động đơn giản hàng ngày nếu lo lắng là nghiêm trọng.

    Tiêu chuẩn chẩn đoán

    Tiêu chuẩn chẩn đoán cho rối loạn lo âu lan tỏa theo DSM-IV-TR[4]:
    -Về mặt thời gian: lo lắng nhiều kéo dài tối thiểu 6 tháng về các sự kiện hay -các hoạt động xảy ra hàng ngày (như công việc hay học tập)
    Tự kiểm soát: khó khăn trong kiểm soát lo lắng
    -Lo lắng kết hợp với 3 trong 6 triệu chứng sau (với trẻ em chỉ cần một):
    -Tình trạng bồn chồn, căng thẳng, bực dọc
    -Dễ bị mệt
    -Khó tập trung hay đầu trống rỗng
    -Kích thích
    -Căng cơ
    -Rối loạn giấc ngủ (khó vào giấc ngủ hay dễ thức giấc, ngủ vật vã). Ngoài ra các triệu chứng có thể bao gồm cảm giác buồn nôn và đau bụng mãn tính
    *Tình trạng lo lắng cùng các triệu chứng cơ thể gây khó khăn đáng kể hay suy giảm các hoạt động xã hội, nghề nghiệp hay các lĩnh vực quan trọng khác
    *Lo lắng không do các tác động sinh lý của hóa chất (như việc sử dụng ma túy) hay các bệnh lý đa khoa (như sự hoạt động quá mức của tuyến giáp) và không xảy ra trong rối loạn khí sắc, rối loạn loạn thần, rối loạn phát triển lan tỏa

    Các rối loạn tâm thần kết hợp

    Rối loạn lo âu lan tỏa hiếm khi là rối loạn duy nhất ở người bệnh, nó thường đi kèm với các loại rối loạn lo âu khác, trầm cảm, hoặc lạm dụng chất[3].

    Ở người mắc rối loạn lo âu lan tỏa thì trầm cảm là bệnh tâm thần thường kết hợp nhất, xảy ra gần 2/3 các trường hợp. Rối loạn hoảng loạn có ở 1/4 số bệnh nhân có rối loạn lo âu lan tỏa, lạm dụng rượu có nhiều hơn 1/3 các trường hợp. Các nghiên cứu gần đây trên trẻ sinh đôi cho thấy xu hướng chung các yếu tố di truyền của cả hai rối loạn lo âu lan tỏa và trầm cảm, và một báo cáo mới đây đề nghị một khác biệt di truyền về gien vận chuyển serotonin có thể góp phần ở người có cả hai bệnh lý này[4]. Theo thống kê riêng ở Mỹ của dự án nghiên cứu National Comorbidity Survey trong năm 2005 (một dự án nghiên cứu về tỉ lệ các rối loạn tâm thần ở người Mỹ) thì 58% bệnh nhân được chuẩn đoán trầm cảm có rối loạn lo âu, trong số đó 17,2% là rối loạn lo âu lan tỏa, 9,9% là rối loạn hoảng sợ. Bệnh nhân rối loạn lo âu cũng có tỉ lệ cao bị trầm cảm ngoài ra 22,4% bệnh nhân mắc ám ảnh sợ xã hội, 9,4% bệnh nhân sợ khoảng trống và 2,3% rối loạn hoảng sợ. Nhiều trường hợp các triệu chứng không đủ mạnh để chẩn đoán là rối loạn lo âu hay trầm cảm khi đó chẩn đoán đầu tiên của bệnh nhân sẽ được áp dụng[5].

    Dịch tễ học


    Bệnh có thể ảnh hưởng đến bất cứ lứa tuổi nào và thường khởi phát trước tuổi 25. Phụ nữ có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn từ 2 đến 3 lần so với nam giới[6]. Khi không được điều trị, tiến triển điển hình là mãn tính, có tỷ lệ hồi phục thấp và tỷ lệ tái phát trung bình[4].

    Thống kê trên thế giới

    Nói chung bệnh rối loạn lo âu thường kết hợp với nhiều bệnh tâm thần khác nhau và tồn tại sự khác biệt nhất định giữa các nước trong việc đánh giá gây ra khó khăn trong việc thống kê chính xác, do vậy các con số dưới đây chỉ mang tính tham khảo:
    Úc: 3% người trưởng thành[7]
    Canada: Từ 3% đến 5% người trưởng thành[8]
    Ý: 2,9%[9]
    Đài Loan: 0,4%[9]
    Hoa Kỳ: xấp xỉ 3,1% người trên 18 tuổi; khoảng 6,8 triệu người từng mắc căn bệnh này[10]

    Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ

    Cũng giống như các rối loạn tâm thần khác, nguyên nhân của rối loạn lo âu lan tỏa chưa được biết rõ. Các nhà nghiên cứu cho thấy bệnh có thể liên quan đến các chất hoá học trong não thường gọi là các chất dẫn truyền thần kinh như serotonin, GABA (gamma-aminobutyric acid) và norepinephrine. Tuy nhiên, nguyên nhân có thể là một sự phối hợp của những quá trình sinh học trong cơ thể, các yếu tố di truyền, môi trường sống, nhân cách. Nhiều bệnh nhân cho rằng những nỗi lo âu của họ bắt đầu từ thời thơ ấu, nhưng chúng cũng vẫn có thể xảy ra ở lúc trưởng thành.

    Một số yếu tố tăng nguy cơ sinh bệnh[2]:
    Tuổi thơ bất hạnh: Trẻ có tuổi thơ bất hạnh và nhiều nghịch cảnh, chứng kiến những hình ảnh gây tổn thương, có nguy cơ cao hơn.
    Bệnh tật: Mắc phải bệnh nặng khiến bệnh nhân hoang mang về sự tồn tại của mình. Lo âu về tương lai, cách điều trị, chi phí có thể vượt quá khả năng chịu đựng.
    Stress: Nhiều tình huống stress dồn dập trong cuộc sống có thể khởi phát sự lo âu quá mức. Ví dụ tan vỡ các mối quan hệ thân tình đi kèm với stress bị mất việc và mất thu nhập là khởi đầu cho rối loạn lo âu lan tỏa.
    Nhân cách: Một số dạng nhân cách nào đó dễ sinh rối loạn lo âu lan tỏa. Những người không đạt được nhu cầu về tâm lý, như trường hợp không có những liên hệ gần gũi được đáp ứng đầy đủ có nguy cơ cao mắc bệnh. Ngoài ra, một số rối loạn nhân cách, như rối loạn nhân cách ranh giới (borderline personality disorder), cũng đi kèm với rối loạn lo âu.
    Di truyền: Một số chứng cứ cho thấy rối loạn lo âu lan tỏa có yếu tố di truyền khiến nó thường gặp ở nhiều thành viên trong cùng một gia đình.

    Điều Trị
    Stress và lo buồn đều có các hiệu quả cả về cơ thể và tâm thần.
    Việc học các kỹ năng để làm giảm hậu quả của stress mà không dùng các thuốc yên dịu là cách giải quyết hiệu quả nhất[11].

    Tâm lý trị liệu

    Phương pháp tâm lý trị liệu được dùng để điều trị bệnh nhân mắc rối loạn lo âu lan tỏa là liệu pháp hành vi nhận thức (cognitive behavioral therapy - CBT). Trị liệu giúp bệnh nhân hiểu được tác động của suy nghĩ và cảm xúc lên hành vi từ đó thay các suy nghĩ tích cực cho những suy nghĩ tiêu cực dẫn đến lo âu[12]. Điều đó giúp bệnh nhân đối diện với sợ hãi và dần dần cảm thấy thoải mái hơn trong các tình huống như vậy đồng thời thực hành các kỹ năng mà họ được học. Bệnh nhân ghi chép suy nghĩ của họ và cảm xúc của họ trong nhật ký, ghi chú các tình huống mà họ cảm thấy lo âu và các hành vi làm giảm lo âu, thường gồm 6 đến 12 buổi trị liệu cá nhân, cách tuần[4]. Liệu pháp hành vi nhận thức có thể là liệu pháp duy nhất hoặc kết hợp với dùng thuốc[13]. CBT có hiệu quả với 1/3 số bệnh nhân trong khi đó cũng ngần ấy bệnh nhân không đáp ứng với bất kỳ trị liệu nào[14].

    Dùng thuốc

    Dùng thuốc trong điều trị rối loạn lo âu lan tỏa chỉ là thứ yếu, tuy vậy việc dùng thuốc có thể cần thiết nếu các triệu chứng lo âu rõ rệt vẫn tồn tại mặc dù đã thực hiện các trị liệu thuần túy tâm lý khác[11][2].
    Thuốc chống lo âu: Nhưng thường không được sử dụng kéo dài bởi vì việc dùng kéo dài có thể dẫn đến lệ thuộc và khi ngừng dùng thuốc các triệu chứng dễ bị tái phát trở lại. Các thuốc thường dùng gồm: alprazolam (Xanax), chlordiazepoxide (Librium), clonazepam (Klonopin), diazepam (Valium) và lorazepam (Ativan).
    Thuốc chẹn β có thể giúp điều trị các triệu chứng cơ thể.
    Các thuốc chống trầm cảm có thể được dùng, đặc biệt là khi có các triệu chứng trầm cảm đi kèm với rối loạn lo âu lan tỏa. Ưu điểm là các thuốc này không dẫn đến lệ thuộc hay tái phát triệu chứng tuy nhiên chúng thường không có hiệu quả ngay mà cần phải mất vài tuần để cải thiện. Một số loại thuốc thường dùng là: fluoxetine (Prozac), paroxetine (Paxil), imipramine (Tofranil), venlafaxine (Effexor), escitalopram (Lexapro) và duloxetine (Cymbalta).

    Điều đặc biệt cần phải lưu ý là: Không được tự ý mua và sử dụng thuốc khi không có chỉ định của bác sĩ chuyên môn, bởi vì việc tự điều trị theo kiểu này thường để lại các hậu quả nghiêm trọng do bạn không biết cách sử dụng thuốc cũng như những tác dụng phụ xấu có thể xảy đến nằm ngoài tầm kiểm soát.

    Xem thêm
    Rối loạn ám ảnh cưỡng chế
    Rối loạn lo âu
    Ám ảnh sợ xã hội
    Rối loạn stress sau sang chấn

    Liên kết ngoài

    Những trang web dưới đây chứa thông tin hữu ích về sức khỏe tâm thần, cũng như địa chỉ để có thể liên hệ:
    www.nimh.gov.vn - Cổng thông tin điện tử của Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia - 78, Giải Phóng, Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội
    www.bvtamthantg.org.vn - Bệnh viện tâm thần Tiền Giang - Xã Nhị Bình, Huyện Châu Thành, Tỉnh Tiền Giang
    www.bvtt-tphcm.org.vn - Bệnh viện tâm thần Tp.Hồ Chí Minh
    www.bvtttw1.com.vn - Bệnh viện tâm thần Trung ương 1 - Hoà Bình, Thường Tín, Hà Nội
    www.nmh2.gov.vn - Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 - Biên Hòa, Đồng Nai

    Chú thích
    ^ Rối loạn lo âu, thông tin từ elearning.hueuni.edu.vn (đăng nhập với vai trò là khách)
    ^ a b c Rối loạn lo âu lan tỏa, thông tin từ hoanmysaigon.com
    ^ a b Generalized Anxiety Disorder (GAD)
    ^ a b c d Rối loạn lo âu lan tỏa, thông tin từ Bệnh viện Tâm thần TPHCM
    ^ depression and anxiety, www.medical-library.org
    ^ Cameron, Alasdair (2004). Crash Course Psychiatry, Elsevier Ltd. ISBN 0-7234-3340-8.
    ^ Relating the burden of anxiety and depression to effectiveness of treatment
    ^ Canadian Network for Mood and Anxiety Treatment
    ^ a b eMedicine - Anxiety Disorders : Article Excerpt by William R Yates
    ^ "The Numbers Count"
    ^ a b Rối loạn lo âu lan tỏa, Bệnh viện tâm thần quốc gia
    ^ "A Guide to Understanding Cognitive and Behavioural Psychotherapies", British Association of Behavioural and Cognitive Psychotherapies. Accessed 29 May 2007.
    ^ "Generalized anxiety disorder", Mayo Clinic. Accessed 29 May 2007.
    ^ Barlow, D. H.: (2007) Clincical Handbook of Psychological Disorders, 4th ed.
  15. 16-12-2009, 05:13 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 16-12-2009, 05:13 PM
    Bài viết: 41
    ditimchanly is offline
    #15

    Sun Thế nào là một rối loạn tâm lý?

    Sách có thể tại tại một trong 3 địa chỉ dưới đây:

    1.http://www.megaupload.com/?d=BVEXO50U
    2.http://www.scribd.com/doc/24168711/N...oan-Co-the-Hoa
    3. http://www.mediafire.com/?jz00ajeiwwz

    Sách dày 73 trang đề cập đến một trong số các căn bệnh tâm lý ít được nhận diện, đại khái đó là những bất thường thuộc cơ thể chẳng hạn như đau đầu, đau khớp, tiêu chảy, nhức tay chân... nhưng lại không có tổn thương thực thể, những rối loạn đó được chứng minh là do có rối loạn thuộc tâm lý, và các triệu chứng cơ thể là biểu hiện cho những rối loạn ấy. Xin trích một đoạn trong sách:

    Trong xu hướng phát triển của thế giới hiện nay, con người ngày càng phải chịu nhiều sức ép từ cuộc sống, từ công việc cũng như từ các mối quan hệ xã hội. Chính vì vậy, các rối loạn liên quan với stress gặp ngày càng nhiều, trong đó có các rối loạn dạng cơ thể (RLDCT). Theo Escobar (1987), Swartz (1986), tỷ lệ mắc RLDCT trong dân số là 4 – 5% [24], [73]. Margot W.M. De Waal (2004) nghiên cứu 1046 bệnh nhân đến khám tại các phòng khám đa khoa, nhận thấy RLDCT là rối loạn tâm thần (RLTT) hay gặp nhất, chiếm 16,1% [75].
    Rối loạn cơ thể hoá (RLCTH) là một loại RLDCT khá phổ biến, chiếm khoảng 0,4 – 0,5% dân số [13], [43], đặc biệt cao ở nữ giới - khoảng 2% [13], [52]. Bệnh cảnh lâm sàng của RLCTH rất đa dạng, gồm nhiều loại triệu chứng cơ thể không giải thích được bằng các khám xét lâm sàng và cận lâm sàng. Đồng thời, rối loạn này lại có khuynh hướng tiến triển mạn tính, tái diễn, dai dẳng nhiều năm và gây ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động chức năng và lao động nghề nghiệp của bệnh nhân. Chính do các tính chất này mà bệnh nhân đến khám ở rất nhiều chuyên khoa khác nhau và tâm lý của đa số bệnh nhân là từ chối đến với bác sỹ tâm thần. Một số tác giả đã chỉ ra rằng tỷ lệ mắc, mức độ trầm trọng và chi phí cho các dịch vụ y tế ở bệnh nhân RLCTH tương đương với bệnh nhân tâm thần phân liệt - một trong những bệnh tâm thần nặng nề nhất [45]. Thomassen và cộng sự (CS) (2003) nghiên cứu hồi cứu thấy rằng RLCTH gây suy giảm chức năng và gây thất nghiệp nhiều hơn các RLTT khác [74].
    Nhiều nghiên cứu so sánh nhóm bệnh nhân RLCTH được khám chữa bệnh bởi các bác sỹ tâm thần với nhóm chứng là các bệnh nhân RLCTH không đến bác sỹ tâm thần, các tác giả đã nhận thấy có sự khác biệt rõ rệt. Smith và CS (1986) cho biết bệnh nhân RLCTH đến bác sỹ tâm thần giảm chi phí chữa bệnh và giảm tỷ lệ nằm viện [52]. Thomassen cũng nhận thấy ở những bệnh nhân này, các triệu chứng thuyên giảm nhanh hơn và việc sử dụng các dịch vụ y tế cũng ít hơn so với nhóm chứng [74].
    Do đó, việc phát hiện và đưa bệnh nhân đến khám chữa bệnh sớm tại các cơ sở tâm thần học đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện triệu chứng, đưa bệnh nhân trở lại cuộc sống bình thường cũng như giảm phí tổn cho người bệnh.
    Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn cơ thể hoá” với mục tiêu:
    Mô tả đặc điểm lâm sàng rối loạn cơ thể hoá.



    CHƯƠNG 1
    TỔNG QUAN TÀI LIỆU

    1.1. LỊCH SỬ VÀ KHÁI NIỆM RLDCT VÀ RLCTH
    1.1.1. Rối loạn dạng cơ thể
    Trong lịch sử phát triển tâm thần học, các triệu chứng của RLDCT đã được mô tả từ lâu. Trước đây, chúng được xếp trong các bệnh tâm căn như trong bệnh tâm căn Hysteria, tâm căn suy nhược, bệnh cơ thể tâm sinh, hội chứng nghi bệnh và hội chứng trầm cảm. Một số tác giả còn mô tả các triệu chứng này trong bệnh tâm thần phân liệt tiến triển lờ đờ [4], [7]. Cho đến năm 1980, lần đầu tiên thuật ngữ “Rối loạn dạng cơ thể” được đưa ra trong Bảng Chẩn đoán và Thống kê RLTT lần thứ III của Hội Tâm thần học Mỹ (DSM – III) để chỉ một nhóm rối loạn được đặc trưng bởi: “các triệu chứng cơ thể gợi ý đến một bệnh lý cơ thể nhưng không phát hiện thấy tổn thương thực thể cũng như không giải thích được bằng các cơ chế sinh lý học đã biết, mà có những bằng chứng cho thấy mối liên quan giữa các triệu chứng đó với các xung đột hoặc các yếu tố tâm lý” [44], [52], [53]. Như vậy, từ đây, các triệu chứng cơ thể được biệt định thành một nhóm bệnh với những đặc trưng và quy luật phát triển riêng biệt.
    Với một số cải biên nhỏ, tên gọi nhóm bệnh này vẫn được giữ trong DSM - III - R (1987) và trong DSM – IV (1994). Theo DSM – IV, đặc trưng của RLDCT là hai đặc điểm lâm sàng kéo dài: Thứ nhất, những than phiền về các triệu chứng cơ thể gợi ý đến bệnh lý thực thể mà không giải thích được bằng các thăm khám và xét nghiệm. Thứ hai, các xung đột và yếu tố tâm lý đóng vai trò quan trọng trong sự bắt đầu, duy trì và tiến triển của tình trạng bệnh. Mối quan tâm về triệu chứng cơ thể tuy chưa đạt tới mức hoang tưởng, ngoại trừ trong rối loạn biến hình cơ thể, nhưng làm hạn chế đáng kể các hoạt động chức năng, xã hội, nghề nghiệp của bệnh nhân. Niềm tin lệch lạc đó của bệnh nhân dẫn đến việc họ cố thuyết phục rằng họ có bệnh lý thực thể nhưng chưa được tìm thấy và có xu hướng đến khám và chữa bệnh ở nhiều bác sỹ và cơ sở y tế khác nhau mà không đến ngay với thầy thuốc chuyên khoa tâm thần. Trong DSM – IV, RLDCT bao gồm: RLCTH, RLDCT không biệt định, rối loạn chuyển di, rối loạn đau, rối loạn nghi bệnh, rối loạn biến hình cơ thể và RLDCT không biệt định khác[37], [44], [53].
    Còn theo hệ thống phân loại bệnh quốc tế - ICD thì cho đến ICD – 9 (1978) cũng vẫn xếp RLDCT trong các bệnh tâm căn Hysteria, bệnh tâm căn nghi bệnh và rối loạn chức năng sinh lý có nguồn gốc tâm căn. Phải đến ICD – 10 (1992) thì RLDCT mới được coi là một nhóm bệnh độc lập gồm các RLTT biểu hiện bằng các triệu chứng cơ thể chủ quan, tái diễn cùng với các yêu cầu đòi hỏi được khám xét nhiều lần về y tế, mặc dầu các kết quả khám nghiệm đều âm tính và được các thầy thuốc đảm bảo rằng các triệu chứng này không có cơ sở bệnh cơ thể, và nếu có bất kỳ rối loạn cơ thể nào thì chúng cũng không giải thích được bản chất và phạm vi của các triệu chứng hoặc sự đau khổ, bận tâm của bệnh nhân [3], [8]. Các RLDCT khởi đầu và duy trì liên quan đến sự kiện đời sống khó chịu hoặc với những khó khăn hay xung đột. RLDCT, theo ICD – 10, bao gồm: RLCTH, RLDCT không biệt định, rối loạn nghi bệnh, rối loạn thần kinh tự trị dạng cơ thể, rối loạn đau dạng cơ thể dai dẳng và các RLDCT khác[4], [9], [53].
    Tuy có một số điểm khác biệt về tiêu chuẩn chẩn đoán và tên gọi của các thể bệnh nhưng nhìn chung, các rối loạn trong RLDCT ở hai bảng phân loại bệnh tâm thần lớn nhất thế giới này là trùng nhau ngoại trừ trường hợp rối loạn chuyển di. Trong DSM – IV, rối loạn chuyển di và rối loạn phân ly được tách riêng, rối loạn chuyển di nằm trong các RLDCT còn rối loạn phân ly là một nhóm khác. Trong ICD – 10, rối loạn chuyển di và rối loạn phân ly được xếp chung thành một nhóm và không thuộc nhóm các rối loạn dạng cơ thể [9], [10],[35], [37].
    1.1.2. Rối loạn cơ thể hoá
    Lịch sử của thuật ngữ “RLCTH” rất phức tạp. Trước đây, trải qua nhiều thế kỷ, có hai hội chứng được mô tả: Hội chứng đơn triệu chứng (monosymptomatic syndrom) và hội chứng đa triệu chứng (polysymptomatic syndrom). Ngày nay, hội chứng đơn triệu chứng được gọi là rối loạn chuyển di (conversion disorder) và hội chứng đa triệu chứng được gọi là RLCTH (somatization disorder). Hai rối loạn này thường có mối liên hệ với nhau và thường lẫn vào nhau [44].
    RLCTH đã từng có nhiều tên gọi mà đầu tiên là hysteria - hội chứng được mô tả từ cách đây ít nhất 4000 năm bởi người Ai Cập cổ. Hysteria, theo tiếng Hy Lạp, nghĩa là tử cung, người Ai Cập lúc đó cho rằng Hysteria được gây ra bởi sự di chuyển của tử cung và sự đổi chỗ của các cơ quan khác. Sự di chuyển của tử cung khắp cơ thể là cơ sở gây ra hiện tượng đa triệu chứng. Từ thế kỷ 17, người ta bắt đầu nghi ngờ về nguồn gốc tử cung của Hysteria. Thomas Syndenham đã không những tách hysteria ra khỏi nguồn gốc tử cung mà còn gắn nó với những rối loạn tâm lý mà lúc bấy giờ gọi là “những sầu muộn trước đây” (antecedent sorrows), tức là đề cập nguồn gốc cảm xúc của rối loạn này. Hơn nữa, Syndenham cũng lần đầu tiên nhận thấy hysteria ở đàn ông [22], [44].
    Năm 1859, Paul Briquet nhấn mạnh khía cạnh đa triệu chứng và tiến triển kéo dài của rối loạn này. Ông thông báo 430 trường hợp ở bệnh viện Charite – Paris, tập trung vào đặc điểm đa triệu chứng. Briquet cũng ghi nhận rối loạn này ở đàn ông và cho rằng nguyên nhân gây bệnh là cảm xúc, cho tới năm 1970, ghi nhận những đóng góp to lớn của P. Briquet, người ta dùng thuật ngữ “Hội chứng Briquet” hay “Bệnh Briquet” để biểu thị rối loạn hysteria đa triệu chứng. Tên gọi này tồn tại cho đến khi xuất bản DSM - III (1980), kể từ đây tên gọi RLCTH ra đời[44], [52].
    Trong lịch sử của DSM, lần xuất bản đầu tiên (1952), RLCTH được xếp trong các rối loạn nguồn gốc tâm sinh. Ở lần xuất bản thứ 2 (1968) - DSM – II, RLCTH nằm trong bệnh tâm căn nghi bệnh. Khi trở thành một nhóm riêng, RLCTH trong DSM – III yêu cầu 14 triệu chứng đối với phụ nữ và 12 triệu chứng đối với đàn ông trong số 37 triệu chứng liệt kê thuộc hệ thống dạ dày - ruột, đau, giả thần kinh, tình dục... DSM - III - R (1987) chỉ yêu cầu 13 trong số 35 triệu chứng cơ thể và không phân biệt giữa phụ nữ và đàn ông. Tiêu chuẩn chẩn đoán RLCTH trong DSM – IV đòi hỏi có ít nhất 8 triệu chứng bao gồm 4 triệu chứng đau, 2 triệu chứng dạ dày - ruột, 1 triệu chứng về hoạt động tình dục và sinh sản và 1 triệu chứng giả thần kinh [17].
    Như vậy, đặc điểm cốt lõi của RLCTH là các triệu chứng cơ thể nhiều loại, tái diễn, diễn ra nhiều năm trước khi đến với thầy thuốc tâm thần mà không thể giải thích đầy đủ bởi các yếu tố cơ thể, thường dẫn đến sự chú ý về bệnh cơ thể và gây suy giảm đáng kể các hoạt động chức năng của bệnh nhân.
    Chỉnh sửa: ditimchanly, 26-12-2009 lúc 08:55 AM
Trang 1/3 123 CuốiCuối