X
Loading
Kết quả từ 1 tới 4 trên 4

Tham khảo giải đề thi Tâm lý học

  1. Cán sự
    Bắt đầu vào 20-11-2010, 10:40 AM
    Đã viết: 55 bài thảo luận
    luanthanh82 is offline
    26170 lượt xem
    #1

    Gift Tham khảo giải đề thi Tâm lý học

    Trích Nguyên văn bởi yumikenkuri View Post
    Hôm nay, Tụi mình lớp KS7 đang thi môn Tâm Lý học đây.
    1. Hãy trình bày những quy luật của tình cảm?
    Các quy luật của tình cảm
    1. Quy luật thích ứng
    - Tình cảm lặp đi lặp lại nhiều lần tạo nên sự thích ứng
    - Biểu hiện: dao năng mài thì sắc, người năng chào thì quen
    - Ứng dụng: Tránh thích ứng và tập thích ứng
    2. Quy luật “tương phản”
    - Trong quá trình hình thành và biểu hiện tình cảm, sự xuất hiện hoặc sự suy yếu đi của một tình cảm này có thể làm tăng hoặc giảm của một tình cảm khác xảy ra đồng thời hoặc nối tiếp với nó.
    Ví dụ: Mai sau anh gặp được người, đẹp hơn người cũ anh thời quên tôi.
    - Ứng dụng: Trong dạy học, giáo dục biện pháp “ôn nghèo nhớ khổ, ôn cố tri tân và nghệ thuật xây dựng nhân vật phản diện và chính diện
    Các ví dụ:
    Làng này khối kẻ sợ anh
    Rượu bé với chiếc mảnh sành cầm tay
    Sợ anh chửi đổng suốt ngày
    Chỉ mình em biết anh say rất hiền
    3. Quy luật “pha trộn”
    - Trong đời sống tình cảm của con người cụ thể, nhiều khi 2 tình cảm đối cực nhau có thể xảy ra cùng một lúc, nhưng không loại trừ nhau chúng “pha trộn” vào nhau.
    - Biểu hiện: Lo âu và tự hào, yêu và ghét
    - Ứng dụng:
    + Từ việc thấy rõ tính chất phức tạp, nhiều khi mâu thuẫn trong tình cảm con người để thông cảm, chia sẻ, hiểu nhau hơn và điều chỉnh hành vi của nhau.
    + Cẩn thận khi suy xét đánh giá người khác bởi những biểu hiện đối lập nhau.
    Không có hạnh phúc nào là hoàn toàn hạnh phúc. Không có đau khổ nào là hoàn toàn đau khổ. (Mark)
    4. Quy luật “di chuyển”
    - Xúc cảm, tình cảm của con người có thể di chuyển từ đối tượng này sang đối tượng khác
    - Biểu hiện: giận cá chém thớt, vơ đũa cả nắm
    - Ứng dụng:
    + Kiềm chế cảm xúc tránh hiện tượng vơ đũa cả nắm
    + Tránh thiên vị trong đánh giá “yêu nên tốt ghét nên xấu”
    Cần có một cái đầu lạnh và một trái tim nóng
    5. Quy luật “lây lan”
    - Xúc cảm tình cảm có thể truyền lây từ người này sang người khác.
    - Biểu hiện: vui lây, buồn lây, đồng cảm, ủng hộ người nghèo, một con ngựa đau…
    - Ứng dụng: các hoạt động tập thể như lao động học tập. Vận dụng trong giáo dục trong tập thể và bằng tập thể
    6. Quy luật về sự hình thành tình cảm
    - Xúc cảm là cơ sở của tình cảm. Tình cảm được hình thành do quá trình tổng hợp hóa, động hình hóa và khái quát hóa những xúc cảm cùng loại.
    + "Năng mưa thì giếng năng đầy
    Anh năng đi lại mẹ thầy năng thương"
    + Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén
    - Tình cảm được hình thành từ xúc cảm, nhưng khi hình thành thì tình cảm lại thể hiện quan xúc cảm và chi phối xúc cảm.
    Vận dụng:
    - Muốn hình thành tình cảm cho học sinh phải đi từ xúc cảm đồng loại. Ví dụ: Xây dựng tình yêu Tổ quốc phải xuất phát từ tình yêu gia đình, yêu mái nhà, yêu từng con người trong gia đình, yêu làng xóm,...
    "Dòng suối chảy ra dòng sông, dòng sông chảy ra Đại trường giang Vônga,, Đại trường giang Vônga chảy ra biển cả. Lòng yêu nhà, yêu quê hương đất nước trở nên lòng yêu Tổ quốc" (Êrenbua, nhà văn Nga)
    - Người thực việc thực là kích thích dễ gây rung động nhất. Ví dụ: Để tạo những xúc cảm, trong dạy lịch sử nên tổ chức cho học sinh tham quan lại chiến trường xưa, các di tích lịch sử…
    - Cần kiên trì trong quá trình hình thành tình cảm
    - Khái quát hoá là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những liên hệ, quan hệ chung nhất định.
    - Tổng hợp hoá là quá trình dùng trí óc để hợp nhất các thành phần đã được tách rời nhờ sự phân tích, thành một chỉnh thể.
    - Động hình hóa (định hình động lực) là khả năng làm sống lại một phản xạ hoặc một chuỗi phản xạ đã được hình thành từ trước
    Công lý chỉ là trò chơi
  2. 21-11-2010, 12:07 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 21-11-2010, 12:07 PM
    Bài viết: 55
    luanthanh82 is offline
    #2

    Default Tham khảo giải đề thi Tâm lý học

    Trích Nguyên văn bởi nguyenngoc_napa View Post
    Câu 1 : Anh (chị) hãy phân tích bản chất của hiện tượng tâm lý người.
    BẢN CHẤT CỦA HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ NGƯỜI
    Có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất hiện tượng tâm lý người:
    * Quan niệm duy tâm khách quan: tâm lý người là do thượng đế tạo ra và “thổi” vào thể xác con người. Tâm lý người không phụ thuộc vào thế giới khách quan cũng như điều kiện thực tại của cuộc sống, tâm lý người là hiện thân “ý niệm tuyệt đối” của thượng đế.
    * Quan niệm duy tâm chủ quan: tâm lý con người là một trạng thái tinh thần sẵn có ở trong mỗi con người, không gắn gì với thế giới bên ngoài và cũng không phụ thuộc vào cơ thể. Bằng phương pháp nội quan, mỗi người tự quan sát, tự thể nghiệm tâm lý của bản thân, rồi suy diễn chủ quan về tâm lý người khác. Quan niệm đó không giải thích được bản chất hiện tượng tâm lý người, dẫn tới chỗ thần bí hóa tâm lý người, cho nó là cái không nghiên cứu được (bất khả tri).
    * Quan niệm duy vật tầm thường: tâm lý cũng như mọi sự vật hiện tượng đều được cấu tạo từ vật chất, do vật chất trực tiếp sinh ra giống như gan tiết ra mật. Quan niệm này đồng nhất cái vật lý, cái sinh lý với cái tâm lý, phủ nhận vai trò chủ thể, tính tích cực năng động của tâm lý, ý thức, phủ nhận bản chất xã hội và tính lịch sử của tâm lý con người.
    * Quan niệm của tâm lý học macxit về bản chất hiện tượng tâm lý người: tâm lý người là chức năng của bộ não, là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ não người thông qua chủ thể mỗi con người, tâm lý người bản chất xã hội và mang tính lịch sử.
    1. Tâm lý người là chức năng của bộ não
    + Não người là tổ chức vật chất phát triển cao nhất có khả năng nhận tác động từ hiện thực khách quan để tạo ra các dấu vết vật chất trên nó (các quá trình sinh lý - sinh hóa diễn ra trong các tế bào não). Từ các dấu vết này nảy sinh những hình ảnh tâm lý/hình ảnh tinh thần trên não.
    + Não người hoạt động theo cơ chế phản xạ. Phản xạ là những phản ứng của cơ thể nhằm đáp lại các kích thích từ ngoại giới vào cơ thể con người. Phản xạ có ba khâu:
    - Khâu thứ nhất - nhận cảm: Cơ thể nhận kích thích từ bên ngoài tạo thành hưng phấn theo đường hướng tâm dẫn truyền vào não.
    - Khâu giữa: Quá trình thần kinh diễn ra trên não và tạo ra hoạt động tâm lý. Khi nảy sinh trên não, cùng với quá trình sinh lý của não, hoạt động tâm lý thực hiện chức năng định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi của cơ thể.
    - Khâu kết thúc: Xung động thần kinh được dẫn truyền từ trung ương thần kinh theo đường ly tâm (dẫn ra) gây nên phản ứng của cơ thể.
    Như vậy, các hiện tượng tâm lý người đều có cơ sở sinh lý là hệ thống chức năng thần kinh cơ động của toàn bộ não. Tâm lý người là chức năng của não. Nói cách khác, về mặt cơ chế, thì tâm lý hoạt động theo cơ chế phản xạ của bộ não. Điều đó cũng cho thấy hoạt động bình thường của não là một trong những điều kiện tất yếu đảm bảo cho hoạt động tâm lý diễn ra bình thường. Hoạt động tâm lý và hoạt động sinh lý gắn bó chặt chẽ với nhau, chi phối lẫn nhau.
    2. Tâm lý người sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể
    + Trong quá trình vận động không ngừng của thế giới, các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan sẽ tác động lẫn nhau để lại dấu vết tác động trên cả vật tác động và vật chịu tác động. Dấu vết đó gọi là sự phản ánh. Như vậy phản ánh là sự ghi lại dấu vết (hình ảnh) tác động qua lại giữa hai hệ thống với nhau (hệ thống tác động và hệ thống chịu tác động).
    + Phản ánh diễn ra từ đơn giản đến phức tạp và có sự chuyển hóa lẫn nhau: từ phản ánh cơ, lý, hóa, sinh vật đến phản ánh xã hội, trong đó có phản ánh tâm lý.
    + Phản ánh tâm lý là một loại phản ánh đặc biệt. Cụ thể:
    - Phản ánh tâm lý được tạo ra một cách đặc biệt, không giống như các dạng phản ánh vật chất khác. Khi có sự vật, hiện tượng từ hiện thực khách quan tác động vào não sẽ tạo ra các dấu vết vật chất trên nó (các quá trình sinh lý - sinh hóa diễn ra trong các tế bào não). Tại các dấu vết vật chất này nảy sinh những hình ảnh tâm lý (hình ảnh tinh thần) về sự vật, hiện tượng đang tác động. Khả năng nhận tác động từ hiện thực khách quan để tạo ra dấu vết vật chất, từ đó tạo ra phản ánh tâm lý là khả năng riêng có của não.
    - Phản ánh tâm lý tạo ra hình ảnh tâm lý như một “bản sao” về thế giới. Tuy nhiên, hình ảnh tâm lý khác về chất so với các hình ảnh cơ, vật lý, sinh vật... ở chỗ:
     Tính sinh động, sáng tạo cao. Thí dụ: Hình ảnh tâm lý về bông hoa trong trong đầu một người trồng hoa khác xa với hình ảnh vật lý “chết cứng” của bông hoa đó trước một cái gương.
     Tính chủ thể (tính riêng, tính cá nhân). Mỗi cá nhân khi tạo ra hình ảnh tâm lý về thế giới bao giờ cũng đưa vốn hiểu biết, vốn kinh nghiệm của mình... vào trong hình ảnh đó, làm cho nó mang đậm màu sắc chủ quan. Con người phản ánh thế giới thông qua “lăng kính chủ quan” của mình. Tính chủ thể trong phản ánh tâm lý thể hiện ở những điểm sau:
     Cùng một hiện thực khách quan tác động vào những chủ thể khác nhau sẽ tạo ra trong đầu óc mỗi chủ thể những hình ảnh tâm lý có mức độ, sắc thái khác nhau.
     Cùng một hiện thực khách quan tác động vào một chủ thể duy nhất nhưng ở vào những thời điểm khác nhau, những hoàn cảnh khác nhau, trạng thái cơ thể và tinh thần khác nhau cũng sẽ tạo ra những hình ảnh tâm lý có mức độ, sắc thái khác nhau.
     Chính chủ thể mang hình ảnh tâm lý là người cảm nhận, thể hiện nó rõ nhất.
     Tính chủ thể trong tâm lý thể hiện rõ nhất trong sự khác biệt về hành vi của mỗi cá nhân. Hành vi của mỗi cá nhân mang tính độc đáo, không lặp lại thể hiện rõ “cái tâm lý” điều khiển nó mang tính riêng biệt.
    Nguyên nhân của tính chủ thể:
     Sự khác biệt cá nhân về cơ thể, hệ thần kinh, não bộ.
     Sự khác biệt cá nhân hoàn cảnh sống, điều kiện giáo dục.
     Sự khác biệt cá nhân về tính tích cực hoạt động.
    Bài học: Khi nghiên cứu, tìm hiểu tâm lý người khác phải chú ý tới các nhân tố tác động sự hình thành bộ mặt tâm lý đó. Trong các hoạt động, quan hệ cần quán triệt nguyên tắc sát đối tượng.
    3. Tâm lý người có bản chất xã hội - lịch sử
    + Loài vật cũng có tâm lý nhưng tâm lý người khác xa về chất so với tâm lý của loài vật ở chỗ tâm lý người có bản chất xã hội và mang tính lịch sử.
    + Bản chất xã hội và mang tính lịch sử của tâm lý người thể hiện như sau:
    - Nơi trú ngụ của tâm lý người là não người. Não người không chỉ là sản phẩm tiến hóa của giới tự nhiên mà còn là kết quả của quá trình tiến hóa về mặt xã hội của loài người. Hoạt động lao động với tư cách là cái riêng có của loài người là điều kiện xã hội để chuyển hóa vượn thành người, não vượn thành não người.
    - Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người. Ở đây, hiện thực khách quan không chỉ là những sự vật, hiện tượng tự nhiên mà còn có cả các quan hệ đặc thù của xã hội loài người (các quan hệ kinh tế, đạo đức, pháp quyền, văn hóa...). Những quan hệ này quyết định bản chất xã hội của tâm lý người. Mọi trường hợp trẻ em bị cách ly khỏi các quan hệ xã hội của loài người (do loài vật nuôi từ bé) sẽ chỉ có tâm lý của loài vật nuôi nó chứ không có tâm lý của loài người.
    - Tâm lý của mỗi cá nhân là kết quả của quá trình lĩnh hội, tiếp thu vốn kinh nghiệm xã hội, nền văn hóa biến thành cái riêng của mỗi con người. Vì vậy, trong tâm lý cá nhân vừa có cái chung của loài người, vừa có cái riêng của từng cá nhân.
    - Tâm lý của mỗi người hình thành, phát triển và biến đổi cùng với sự phát triển của lịch sử cá nhân, cộng đồng và dân tộc. Vì vậy, tâm lý cá nhân chịu sự chế ước của lịch sử cá nhân và lịch sử cộng đồng. Mỗi thời đại có con người của riêng mình. Mỗi cá nhân vừa là sản phẩm của chính mình, của cộng đồng nơi mình sống và của thời đại mình sống.
    --------------------
    Bổ sung bài viết...
    --------------------
    Trích Nguyên văn bởi nguyenngoc_napa View Post
    Câu 2 : Trí nhớ là gì ? Làm sao để có trí nhớ tốt.
    I. Trí nhớ là gì
    Trí nhớ được xem là hoạt động tâm lý phản ánh những kinh nghiệm đã trải qua của con người dưới hình thức biểu tượng.
    Như vậy, trí nhớ phản ánh các sự vật, hiện tượng đã tác động vào con người trước đây, mà không cần sự tác động của chúng trong hiện tại. Trí nhớ phản ánh bản thân hiện thực, nhưng hiện thực này đã được con người tích lũy kinh nghiệm thành vốn riêng của mình. Kết quả của quá trình trí nhớ sẽ tạo ở con người những hiểu biết, nó có được là do con người đã trực tiếp tri giác, hoặc do từng trải.
    Khi xét về mặt phản ánh của trí nhớ, trí nhớ được xem là bước quá độ giữa hoạt động nhận thức cảm tính sang nhận thức lý tính. Cấu tạo tâm lý được tạo thành trong quá trình trí nhớ là biểu tượng, đó là những hình ảnh của sự vật, hiện tượng còn lưu giữ trong óc khi sự vật, hiện tượng không còn trực tiếp tác động vào giác quan.
    Khác với hình tượng của tri giác, biểu tượng vừa có tính trực quan, vừa có tính khái quát. Tính trực quan của biểu tượng thể hiện ở chỗ: nó là kết quả của sự chế biến hình ảnh trước đây con người đã tri giác. Không có tri giác về sự vật, hiện tượng nào đó sẽ không có biểu tượng. Tính khái quát của biểu tượng thể hiện ở chỗ: biểu tượng là những hình ảnh mang đến những dấu hiệu chung, đặc trưng của sự vật, hiện tượng.
    Trí nhớ có vai trò lớn trong cuộc sống và hoạt động của con người. Nhờ trí nhớ mà con người xác định được phương hướng để thích nghi với ngoại giới. Trí nhớ giúp con người không chỉ hoàn thành những công việc quan trọng mà cả những công việc hàng ngày.
    Trí nhớ giúp con người tích lũy kinh nghiệm, trên cơ sở đó con người mới có thể hành động và hành động có kết quả. Trí nhớ giúp con người học tập, tư duy và hiểu biết thế giới. Không có trí nhớ sẽ không có sự phát triển nào hết về trí tuệ cũng như về thực tiễn của con người.
    II. Làm sao để có trí nhớ tốt
    Nếu chúng ta ai cũng chỉ cần đọc lướt trên một trang giấy là nhớ hết và mãi mãi những gì viết trên đó thì hay biết mấy! Hoặc là chúng ta có thề mãi mãi không quên ngày sinh nhật của các bạn bè.Nhưng thât đáng buốn! không phài ai trongchúng ta cũng có được ký ức chính xác như vậy. Chỉ một thiểu số thật sự có ký ức đó, còn phần đông chúng ta đểu dựa vào các thiết bị giúp trí nhớ. Tuy nhiên, có điểm may mắn là bất cứ ai cũng có thể rèn luyện trí nhớ, và với thời gian và thực hành nhiểu người có thể đạt được khả năng nhớ một lượng thông tin nhiểu không thể ngờ. Dù là bạn không muốn trở thành nhà vô địch trí nhớ toàn cẩu nhưng biết cách rèn luyện trí nhớ cũng là một điểu tốt …vì cũng giúp bạn thắng được một cuộc thi về lịch sử chẳng hạn hay ít ra không quên được chỗ đễ chìa khoá xe hơi!
    Dưới đây là một số điểu hướng dẫn để bạn rèn luyện trí nhớ
    1- Tin tưởng là mình có một trí nhớ tốt và cải tiến được
    Rất nhiểu người tự cho là mình có một trí nhớ kém đến cả tên người cũng không nhớ nổi và tự nhiên các con số biến mất khỏi trí óc không biết vì lý do gì. Nếu bạn có suy nghĩ như vậy thì hãy gạt bỏ ngay. Bạn phải quyết tâm cải thiện trí nhớ và tìm sự vui thích trong các tiến bộ của mình. Bạn đừng bao giờ nản chí.
    2- Rèn luyện não bộ
    Rèn luyện não bộ đểu đặn sẽ giúp cho não tăng trưởng và thúc đẩy sự phát triển các mối nối thẩn kinh mới có thể giúp cải thiện trí nhớ. Bằng việc phát triển các kỹ xảo trí óc mới ---đặc biệt là các kỹ xảo phức tạp như học một ngôn ngữ mới hay chơi một nhạc cụ mới---và việc thách đố não với những bài đố hoặc trò chơi game, chúng ta có thể giữ cho não năng hoạt và cải thiện chức năng sinh lý của não. Mỗi ngày bạn hãy dành khoảng 30 phút để chơi ô chữ, sudoku, hoặc game đã được chuyển tải sẵn vào máy điện thoại di động của bạn
    3- Tập thể dục mỗi ngày
    Tập aerobic đều đặn sẽ giúp cải thiện sự lưu thông máu huyết trong cơ thể bao gồm cả não, .và có thể giúp ngăn chặn sự mất trí nhớ do tuổi già. Thể dục còn giúp bạn trở thành lanh lẹn hơn và cảm thấy thư giãn hơn , do đó việc ghi nhận các “hình ảnh” trong trí nhớ được tốt hơn
    Môn tập aerobic là môn thể dục liên hệ tới và cải thiện việc tiêu thụ oxogen bởi cơ thể. Đây là một loại thễ dục đòi hõi tim và phổi phải lảm việc quá tải nhiểu hơn so với lúc nghỉ ngơi. Môn tập aerobic gồm có nhảy aerobic, đạp xe đạp, đi trượt tuyết, đi bộ, nhảy dây, chạy bộ, leo thang và bơi lội
    4- Giảm căng thẳng tâm thần (stress)
    Sự căng thẳng tâm thần mạn tính (chronic stress) , mặc dầu không gây tổn thương về thể chất cho não, nhưng làm cho việc nhớ trở thành khó khăn hơn nhiếu. Nếu tình trạng stress kéo dài thì não sẽ bị tổn thương.
    tình trạng stress mạn tính sẽ ảnh hưởng lên sức khoẻ và trí nhớ của bạn, nó sẽ làm tổn thương não, vì vậy cách tốt nhầt là phải tập kiểm soát stress. Stress không bao gi có thể loại bỏ được, nhưng chắc chằn có thể kiểm soat được. Ngay cả những stress tạm thời cũng làm cho việc tập trung tư tưởng và quan sát sự việc trở thành khó khăn. Bạn hãy tập thư dãn, tập đểu đặn yoga hay những môn tập thư dãn khác, và bạn cần tham khảo bác sĩ nếu bị stress mạn tính trẩm trọng
    5- Ăn uống cho tốt và đúng
    Ngoài thị trường có bầy bán nhiểu dược thảo bổ sung được quảng cáo là cải thiện trí nhớ, nhưng chưa có thứ nào được chứng tỏ là có hiệu nghiệm qua các thử nghiêm lâm sàng. Tuy nhiện một chế độ ăn uống lành mạnh sẽ giúp cho não khoẻ mạnh và những thực phẩm chứa các chất chống oxi- hóa và các acid béo Omega-3 giúp tăng cường chức năng của não. Bạn hãy nuôi dưỡng não với những chất b sung như thiamine, vitamin E, niacin và vitamin B-6. Ăn thành 5 hay 6 bữa ăn nhỏ trong một ngày thay vì 3 bữa ăn lớn cũng cải thiện sự vận hành của trí óc (bao gổm cả trí nhớ) vì giới hạn được sự tụt giảm của mức đường-huyết có th có ảnh hưởng tiêu cực tới não
    6- Ghi nhận tốt các “hình ảnh”
    Chúng ta thường quên các sự việc không phải vì trí nhớ chúng ta kém mà vì kỹ năng quan sát của chúng ta không tốt. Một tình huống thường xẩy ra (và điểu này hẩu như mọi người đều liên quan tới ) là khi chúng ta được giới thiệu với một người. Thông thường lúc ban đầu chúng ta không nhớ tên người đó vì chúng ta thật sự không chú tâm vào việc đó. Bạn sẽ nhận thấy là nếu bạn chủ tâm muốn nhớ những điểu như vậy thì bạn sẽ làm khá hơn. Một cách để tự huấn luyện kỹ năng quan sát của mình thì bạn hãy tập chú tâm quan sát trong vài giây ảnh chụp của một người không quen biết, rổi lật xấp tấm ảnh lại và sau đó mô tả hoặc viết xuống càng nhiểu chi tiết vể tấm ảnh càng hay. Bạn hãy nhắm mắt lại và cố hình dung ra bức ảnh chụp trong trí óc. Mỗi lần tập như thế bạn hãy dùng một tấm ảnh khác và nếu thực tập đều đặn bạn sẽ thấy mình có thể nhớ được nhiều chi tiết hơn, ngay cả khi chỉ nhìn thoáng qua tấm ảnh
    7- Để ký ức có thời gian hình thành
    Các ký ức ngắn hạn rất mong manh và chỉ cần chúng ta xao lãng là quên đi nhanh chóng những sự việc đơn giản như số điện thoại chẳng hạn. Chìa khoá đ tránh mất các ký ức trước khi chúng hình thành thì chúng ta phài có thời gian tâp trung vào sự việc mà chúng ta cẩn phải nhớ trong môt khoảng khắc mà không nghĩ tới các sự việc khác. Vì vậy khi bạn muốn nhớ việc gì thì bạn hãy tránh đừng để bị xao lãng và ngưng những công việc phức tạp trong một vài phút
    8-Tạo ra những hình ảnh linh hoạt dễ nhớ
    Bạn có thể nhớ một thông tin dễ dàng hơn khi mà bạn có th hình dung ra nó. Nếu bạn muốn liên hợp một đứa trẻ với một cuốn sách, bạn đừng có hình dung một đứa bé đang ngồi đọc sách –vì hình ảnh đó quá đơn giản và dễ quên. Thay vào đó, bạn hãy nghĩ ra một cái gì nổi bật hơn, một cái gì bắt mắt hơn, chẳng hạn như cuốn sách đuổi theo đứa bé hay đứa bé đang gặm ăn cuốn sách. Hình ảnh càng đập vào mắt và càng gây cảm xúc nhiểu thì sự liên hợp càng mạnh mẽ bấy nhiêu
    9- Lập đi lập lại những điểu mà bạn cẩn nhớ
    Bạn càng nghe thấy, nhìn thấy hoặc nghĩ tới điểu gì nhiều lần thì chắc chắn bạn sẽ nhớ điều đó, có đúng thế không? Khi bạn muốn nh điều gì-----chẵng hạn như tên người đổng nghiệp mới hay ngày sinh nhật của người bạn thân --- bạn hãy lặp đi lặp lạinhiểu lần hoặc lớn tiếng hoặc nhẩm trong miệng. Bạncó thể viểt xuống và nghĩ tới điểu bạnmuốn nhớ
    10- Tập trung thành nhóm các điểu bạn muốn nhớ
    Một bản liệt kê một cách ngẫu nhiên các thứ (như bản kê những thứ phải ra chợ mua sắm) có thể đặc biệt khó nhớ. Muốn dể nhớ hơn, bạn hãy phân loại các thứ trên bản liệt kê ra thành từng nhóm. Như vậy nếu bạn cần mua bốn thứ trong nhóm rau thì bạn sẽ thấy dễ nhớ hơn cả bốn.
    11- Tổ chức đời sống cho gọn gàng
    Luôn luôn để các thứ thường dùng như chìa khoá, kính mắt ở cùng một chỗ. Bạnhãy dùng một thiết bị xắp xếp điện tử hay một thiết bị kế hoạch hoá hàng ngày để theo dõi các buổi hẹn, các ngày phải thanh toán hoá đơn, và những công việc khác. Ghi các số điện thoại và địa chỉ trong một cuốn sổ địa chỉ hoặc vào máy điện toán hay điện thoại di động. Việc tổ chức gọn gàng có thể giúp bạn có thời giờ tập trung vào những công việc ít xẩy ra hàng ngày. Ngay cả nếu khi đời sống của bạn được tổ chức như vậy mà trí nhớ của bạn không cải thiện thì bạn cũng vẫn hưởng được nhiểu những lợi ích tương tự (chặng hạn như bạn không còn phải tìm kiếm chìa khoá nữa)
    12- Ngồi thiền
    Nghiên cứu cho thấy những người ngồi thiền đều đặn có thể tập trung tư tưởng và có trí nhớ tốt hơn. Các nghiên cứu của bệnh viện Massachusetts General Hospital cho thầy là ngổi thiền thường xuyên tăng lượng máu chạy tới vỏ não làm cho vùng này dày thêm. Một số nhà khảo cứu cho rằng điều này có thể gia tăng khả năng chú ý, tập trung và trí nhớ
    13- Ngủ ngon giấc
    Lượng giấc ngủ ảnh hưởng tới khả năng nhớ của não đối với những thông tin mới nhận được. Theo báo cáo của Đại học Harvard thì ngủ giấc đêm được tối thiểu 7 tiếng có thể cải thiện trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ liên hệ dài hạn
    14- Học hỏi các kỹ thuật giúp trí nhớ
    Cải thiện trí nhớ với những trò chơi. Các kỹ thuật này tạo nền tảng cho các kỹ thuật rèn luyện trí nhớ và cải thiện trí nhớhieeuj quả
    15- Hãy mạohiểm và học hỏi từ các sai lẩm
    Bạn hãy thử nhớ một trăm con số đẩu của pi hoặc nếu bạn đã làm rồi thì hãy thử với một ngàn con số đầu. Bạn hãy thử nhớ tên các vị vua nước Anh với kỹ thuật “memory palaces” hoặc nhớ bản liệt kê thực phẫm cẩn mua ở chợ qua phương pháp hình dung.
    Nếu siêng năng cố gắng biết đâu bạn sẽ chẳng nắm vững được nghệ thuật nhớ
    Công lý chỉ là trò chơi
  3. 21-11-2010, 01:15 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 21-11-2010, 01:15 PM
    Bài viết: 55
    luanthanh82 is offline
    #3

    Default Tham khảo giải đề thi Tâm lý học

    Trích Nguyên văn bởi ngodung View Post
    Câu 1: Anh (chị) hãy trình bày các quy luật của tri giác và nêu ý nghĩa của quy luật đó trong cuộc sống và công tác.
    Tri giác là một quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta.
    * Đặc điểm cơ bản của tri giác:
    Tri giác được hình thành và phát triển trên cơ sở những cảm giác, nhưng tri giác không phải là phép cộng đơn giản của các cảm giác, mà là sự phản ánh cao hơn so với cảm giác. Tri giác có những đặc điểm giống với cảm giác như:
    - Là một quá trình tâm lý, có nảy sinh, diễn biến và kết thúc.
    - Phản ánh thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng.
    - Phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp (đang tác động).
    Tuy vậy tri giác có những đặc điểm nổi bật như:
    - Tính trọn vẹn: Tri giác phản ánh sự vật, hiện tượng một cách trọn vẹn, đem lại cho ta một hình ảnh hoàn chỉnh về một sự vật, hiện tượng. Tính trọn vẹn của tri giác do tính trọn vẹn khách quan của bản thân sự vật, hiện tượng quy định. Trên cơ sở kinh nghiệm, hiểu biết của mình, chỉ cần tri giác một số thành phần riêng lẻ của sự vật ta cũng có thể tổng hợp được các thành phần riêng lẻ đó tạo nên hình ảnh trọn vẹn của sự vật, hiện tượng.
    Ví dụ: trong trò chơi nốt nhạc vui, thí sinh chỉ cần nghe vài nốt nhạc cũng có thể đoán được tên bài hát.
    - Tính kết cấu: Tri giác phản ánh sự vật, hiện tượng theo những cấu trúc nhất định. Cấu trúc này không phải tổng số các cảm giác, mà là sự khái quát đã được trừu xuất từ các cảm giác đó trong mối liên hệ qua lại giữa các thành phần của cấu trúc ấy trong suốt một khoảng thời gian nào đó. Sự phản ánh này không phải đã có từ trước mà nó diễn ra trong quá trình tri giác.
    Ví dụ: Người nước ngoài muốn hiểu được người Việt Nam nói gì phải học tiếng Việt Nam theo cấu trúc ngữ pháp, hệ thống phân loại từ vựng của Việt Nam → khi ta tri giác ngôn ngữ của người khác mà hiểu được là vì các từ của họ phát ra nằm trong một cấu trúc nhất định, với những mối liên hệ qua lại xác định giữa các thành phần của cấu trúc ấy.
    - Tính tích cực: tri giác là một quá trình tích cực, gắn liền với hoạt động của con người. Tri giác mang tính tự giác, giải quyết một nhiệm vụ nhận thức cụ thể nào đó, là một hành động tích cực trong đó có sự kết hợp chặt chẽ của các yếu tố cảm giác và vận động.

    Các quy luật của tri giác
    1 Quy luật về tính đối tượng của tri giác
    - Hình ảnh trực quan mà tri giác đem lại bao giờ cũng thuộc về một sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài. Tính đối tượng của tri giác nói lên sự phản ánh hiện thực khách quan chân thực của tri giác và nó được hình thành do sự tác động của sự vật, hiện tượng xung quanh vào giác quan con người trong hoạt động.
    - Tính đối tượng của tri giác có vai trò quan trọng: nó là cơ sở của chức năng định hướng cho hành vi và hoạt động của con người.
    Ví dụ: trẻ nhỏ nhận thức được sự vật tồn tại độc lập với cơ quan cảm giác, trong giai đoạn hành động với đồ vật, trẻ phát triển các chức năng tâm lý mới: biết cách sử dụng đồ vật, hoạt động có mục đích, sử dụng đồ vật theo những mục đích xác định.

    2 Quy luật về tính lựa chọn của tri giác
    - Tri giác của con người không thể đồng thời phản ánh tất cả các sự vật, hiện tượng đang tác động, mà chỉ tách đối tượng ra khỏi bối cảnh (tách vật nào đó ra khỏi các vật xung quanh). Khả năng của con người chỉ tri giác một vài đối tượng nào đó trong vô số những sự vật, hiện tượng xung quanh gọi là tính lựa chọn của tri giác.
    - Tính lựa chọn của tri giác biểu hiện thái độ tích cực của con người, nhằm tăng hiệu quả của tri giác. Thực chất của quá trình tri giác là quá trình tách đối tượng ra khỏi bối cảnh. Vì thế đối tượng càng khác biệt so với bối cảnh thì quá trình tri giác xảy ra một cách nhanh chóng và dễ dàng, ngược lại đối tượng càng giống với bối cảnh thì tri giác xảy ra một cách khó khăn.
    - Sự lựa chọn trong tri giác không có tính chất cố định, vai trò của đối tượng và bối cảnh có thể thay đổi cho nhau, tùy thuộc vào mục đích cá nhân và điều kiện xung quanh khi tri giác.
    Ví dụ: sự tri giác những bức tranh hai nghĩa
    - Tính lựa chọn của tri giác phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan:
    + Yếu tố khách quan: những đặc điểm của kích thích (cường độ, nhịp độ vận động, sự tương phản ...), đặc điểm của các điều kiện bên ngoài khác (khoảng cách từ vật đến ta, độ chiếu sáng của vật ...), sự tác động bằng ngôn ngữ của người khác.
    Ví dụ: hoạt động quảng cáo, nghệ thuật bán hàng dựa trên đặc điểm khách quan này để thu hút sự tri giác không chủ định của khách hàng.
    + Yếu tố chủ quan: tình cảm, xu hướng, nhu cầu, hứng thú, kinh nghiệm, tính chất nghề nghiệp ...
    Ví dụ: hoạt động kinh doanh, quảng cáo phải chú ý những đặc điểm này của khách hàng để tạo ra sản phẩm phù hợp

    3 Quy luật về tính có ý nghĩa của tri giác
    - Khi tri giác sự vật, hiện tượng con người không chỉ tạo ra hình ảnh trọn vẹn mà còn có khả năng gọi tên được sự vật, hiện tượng ở trong óc, hoặc xếp được sự vật đang tri giác vào một nhóm đối tượng cùng loại, hoặc chỉ ra được cùng dạng, ý nghĩa, công dụng của sự vật, hiện tượng đối với hoạt động của bản thân. Ngay cả khi nhìn thấy một sự vật, hiện tượng chưa quen biết, ta cũng cố ghi nhận trong nó một sự giống nhau nào đó với những sự vật, hiện tượng đã quen biết, xếp nó vào một nhóm nào đó.
    - Tính ý nghĩa của tri giác có quan hệ chặt chẽ với tính trọn vẹn: tri giác càng đầy đủ các thuộc tính, các bộ phận của sự vật, hiện tượng thì việc gọi tên hoặc chỉ ra được công dụng, ý nghĩa của sự vật, hiện tượng càng cụ thể và chính xác.
    - Như vậy tri giác là một quá trình tích cực, trong đó con người tiến hành nhiều hành động trí tuệ (phân tích, so sánh, tổng hợp ... ) để hình thành một hình ảnh tương ứng về sự vật. Tính có ý nghĩa của tri giác phụ thuộc vào vốn kiến thức, vốn kinh nghiệm, khả năng ngôn ngữ và tư duy của chủ thể.

    4 Quy luật về tính ổn định của tri giác
    - Tính ổn định của tri giác là khả năng phản ánh tương đối ổn định về sự vật, hiện tượng nào đó khi điều kiện tri giác thay đổi.
    - Điều kiện tri giác là vị trí của vật so với chủ thể, đó là độ chiếu sáng, góc độ chiếu sáng vào chủ thể ... Tất cả những cái đó luôn luôn thay đổi, nhưng con người vẫn có khả năng tri giác sự vật xung quanh như là những sự vật ổn định về hình dạng, kích thước, màu sắc ...
    Ví dụ: trước mặt ta là một em bé, đằng xa phía sau là người mẹ. Trên võng mạc ta, hình ảnh đứa bé lớn hơn hình ảnh người mẹ nhưng ta vẫn tri giác người mẹ lớn hơn đứa trẻ.
    - Tính ổn định của tri giác thể hiện rõ trong trường hợp tri giác về độ lớn, hình dạng, màu sắc của đối tượng. Tính ổn định của tri giác phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
    + Cấu trúc tương đối ổn định của sự vật trong một thời gian, thời điểm nhất định.
    + Cơ chế tự điều chỉnh đặc biệt của hệ thần kinh dựa trên mối liên hệ ngược do vốn kinh nghiệm phong phú của con người tạo nên.

    5 Quy luật tổng giác
    - Hình ảnh tri giác không chỉ phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm của vật kích thích mà còn phụ thuộc vào bản thân chủ thể tri giác. Khi tri giác, con người không chỉ phản ánh thế giới bằng những giác quan cụ thể mà bằng toàn bộ hoạt động của chủ thể.
    → Tri giác thế giới không có nghĩa là “chụp ảnh” thế giới một cách trực tiếp, mà là phản ánh thế giới thông qua “lăng kính” đời sống tâm lý của chủ thể
    - Sự phụ thuộc của hình ảnh tri giác vào nội dung của đời sống tâm lý con người, vào đặc điểm tâm lý nhân cách của họ được gọi là hiện tượng tổng giác.
    Ví dụ: Sự tri giác cùng một đối tượng của nhiều người thường không giống nhau do họ có mục đích, nhu cầu, hứng thú, tình cảm, kinh nghiệm, tâm thế khác nhau ... : Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ (Nguyễn Du)

    6 .Ảo ảnh tri giác
    - Ảo ảnh tri giác là sự phản ánh sai lệch các sự vật, hiện tượng một cách khách quan của con người.
    - Ảo ảnh là một hiện tượng có quy luật, xảy ra ở tất cả mọi người và có ở tất cả các loại tri giác, do ba nhóm nguyên nhân chính sau:
    + Nguyên nhân vật lý (do khúc xạ ánh sáng ...)
    + Nguyên nhân sinh lý (mức độ tiêu hao năng lượng thần kinh, hay độ căng thẳng cơ bắp khác nhau)
    + Nguyên nhân tâm lý (do sự chi phối của quy luật trọn vẹn của tri giác, hay sự tương phản của cảm giác ...)
    → Áp dụng hiện tượng ảo ảnh tri giác trong nghệ thuật quảng cáo, hội họa, trang trí, trang điểm hóa trang cho diễn viên khi lên sân khấu, nghệ thuật bán hàn.
    Cần phân biệt hiện tượng ảo ảnh với ảo giác. Ảo ảnh là hiện tượng xảy ra ở tất cả những người bình thường. Còn ảo giác là hiện tượng bệnh lý – xuất hiện trong đầu những hình ảnh không có trong thực tế.
    Công lý chỉ là trò chơi
  4. 24-11-2010, 07:28 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 24-11-2010, 07:28 PM
    Bài viết: 55
    luanthanh82 is offline
    #4

    Default Tham khảo giải đề thi Tâm lý học

    Trích Nguyên văn bởi ngodung View Post
    Câu 2: Tình cảm là gì? phân biệt xúc cảm với tình cảm?

    Tình cảm là những thái độ cảm xúc ổn định đối với những sự vạt hiện tượng trong thế giới khách quan của con người, phản ảnh ý nghĩa của chúng trong mối liên hệ với nhu cầu và động cơ của họ.Tình cảm là sản phẩm cao cấp của sự phát triển các quá trình xúc cảm trong những điều kiện xã hội.

    Xúc cảm là quá trình rung động của tâm lý có kèm theo sự rung động của cơ thể được nảy sinh khi chủ thể của nhu cầu gặp sự vật, hiện tượng liên quan đến nhu cầu của mình.

    Phản ánh tâm lý trong tình cảm là một dạng tâm lý phản ánh mới - phản ánh cảm xúc. Sự phản ánh cảm xúc có những điểm giống với sự phản ánh nhận thức (đều là sự phản ánh hiện thực khách quan, đều mang tính chủ thể và có bản chất xã hội - lịch sử). Tuy nhiên, chúng có những đặc điểm khác về căn bản với sự phản ánh nhận thức.

    Xúc cảm và tình cảm đều biểu hiện mặt thái độ của con người đối với hiện thực, vì vậy, chúng có sự giống nhau nhưng đây là hai mức độ có khác biệt căn bản trên ba mặt: tính ổn định, tính xã hội và cơ chế sinh lý - thần kinh. Sự phân biệt xúc cảm và tình cảm có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn.

    Xúc cảm
    - Có cả ở con người và con vật- Là một quá trình tâm lý
    - Có tính chất nhất thời , tình huống và đa dạng
    - Luôn luôn ở trạng thái hiện thực
    - Xuất hiện trước
    - Thực hiện chức năng sinh vật (giúp con người định hướng và thích nghi vơí môi trường bên ngoài vơí tư cách là một cá thể)
    - Gắn liền vơí phản xạ không điều kiện


    Tình cảm
    - Chỉ có ở con người- Là thuộc tính tâm lý
    - Có tính chất ổn định
    - Thường ở trạng thái tiềm tàng
    - Xuất hiện sau
    - Thực hiện chức năng xã hội ( giúp con người định hướng và thích nghi vơí xã hội vơí tư cách là một nhân cách)
    - Gắn liền vơí phản xạ có điều kiện


    Mối liên hệ giữa xúc cảm và tình cảm:
    - Xúc cảm là cơ sở nảy sinh tình cảm và là trạng thái biểu hiện của tình cảm.
    - Tình cảm là sản phẩm của sự tổng hợp hóa, động hình hóa, khái quát hóa các xúc cảm đồng loại. Tình cảm chi phối các xúc cảm.
    Công lý chỉ là trò chơi

Tags:

None